CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Huyện Nguyên Bình. Địa hình huyện Nguyên Bình hình thành 2 vùng rõ rệt: vùng núi đá và vùng núi đất. Độ cao trung bình từ 800m đến 1.100m, thấp dần từ tây sang đông.
Vùng núi đá chạy dài theo hướng tây - tây bắc bao quanh núi đất, nối tiếp nhau thấp dần về phía đông bắc. Ngoài ra, huyện có diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 5.048 ha, trong đó đất ruộng có 1. Đất lâm nghiệp 67.242ha, tỉ lệ che phủ 54,04%, có khu vực rừng Phia Oắc, phia Đén là rừng đặc dụng, phòng hộ [1]. Huyện Nguyên Bình phân chia thành 17 đơn vị hành chính bao gồm 15 xã: Minh Tâm, Vũ Minh, Tam Kim, Hoa Thám, Thịnh Vượng, Thể Dục, Quang Thành, Hưng Đạo, Thành Công, Phan Thanh, Mai Long, Ca Thành, Vũ Nông, Triệu Nguyên, Yên Lạc và hai thị trấn: Nguyên Bình, Tĩnh Túc [1].
Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Xã Phan Thanh nằm ở phía tây của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Cách trung tâm huyện 32km. Phía Đông giáp xã Quang Thành, xã Thành Công.
Phía Nam giáp xã Thành Công, xã Bành Trạch, huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn. Phía Tây giáp xã An Thắng huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn Phía Bắc giáp xã Mai Long, xã Vũ Nông, thị trấn Tĩnh Túc. Phía Nam giáp xã Bành Trạch, tỉnh Bắc Kạn [2]. Diện tích tự nhiên Xã Phan Thanh có tổng diện tích tự nhiên là 8365,35 ha.
Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 7658,63 ha chiếm 91,55% diện tích; đất lâm nghiệp là 7452,17 ha (89,08%) đất phi nông nghiệp là 107,96 ha (1,29%); đất chưa sử dụng là 598,76 ha (7,15%) [2]. Đặc điểm địa hình, khí hậu Xã nằm trong vùng đệm của Vườn quốc gia Phia Oắc, có địa hình đồi núi phức tạp, chủ yếu là đất đồi núi, phía Tây Bắc có độ cao trung bình từ 800m - 1200m và thấp dần về phía Đông Nam có độ cao trung bình từ 500m -700m [2]. Nhiệt độ trung bình của xã Phan Thanh quanh năm là 20,2ºC. Mùa lạnh kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9 và có nhiệt độ bình quân 24,3 ºC [2].
Lượng mưa trung bình năm của xã là 1. Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đồng đều vào các tháng trong năm. Mưa tập trung chủ yếu vào thời gian từ 2 tháng 5 đến tháng 9, còn gọi là mùa mưa. Ngoài ra mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau [2].
Độ ẩm tương đối bình quân cả năm là 84,3%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7, 8 là trên 87%, thấp nhất vào tháng 12 là 80,5% [3]. Điều kiện kinh tế xã hội xã Phan Thanh 1. Dân cư Xã Phan Thanh có 08 xóm hành chính. Hiện nay trên địa bàn xã có 623 hộ sinh sống với 3037 nhân khẩu với 04 dân tộc cùng sinh là Dao, Nùng, Mông, Thái, trong đó dân tộc Dao là chủ yếu là dân tộc Dao chiếm 85,66%, dân tộc Nùng chiếm 10,84%, dân tộc Mông chiếm 3,30% [2].
Theo thống kê năm 2024, tổng số hộ nghèo tại xã đầu năm là 486 hộ, số hộ thoát nghèo là 42 hộ [4]. Có 545 hộ đạt danh hiệu "Gia đình văn hóa" và đề nghị cấp huyện xét tặng danh hiệu “xóm văn hóa” là 7/8 xóm [5]. Bên cạnh đó, thu nhập bình quân đầu người tại xã đạt 16 triệu đồng/người/ năm [6]. Hành chính Xã Phan Thanh được chia thành 08 xóm: Bình Đường, Bản Chiếu, Tổng Sơ, Phúng Liáng, Lũng Cam, Phiêng Lầu, Pác Cai, Nà Mùng [7].
Ngày 9 tháng 9 năm 2019, sáp nhập hai xóm Tổng Sinh và Nặm Sơ thành xóm Tổng Sơ, sáp nhập một phần xóm Bản Chiếu vào xóm Phiêng Lầu, sáp nhập một phần xóm Lũng Chủ vào xóm Pác Cai, sáp nhập phần còn lại của xóm Lũng Chủ vào xóm Bản Chiếu [2], [7]. Y tế Trạm y tế xã đã đạt chuẩn quốc gia từ năm 2013. Công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân luôn được đảm bảo và không ngừng nâng cao [2]. Từ năm 2021, công tác tiêm chủng mở rộng được duy trì thực hiện 100% đảm bảo không có tai biến sau tiêm chủng.
Tỷ lệ phụ nữ đẻ, khám thai đủ trong thời kỳ mang thai đạt 95,4% [8]. Giáo dục Trên địa bàn có 3 trường học chính tại trung tâm xã và 10 điểm trường tại các xóm với đội ngũ giáo viên giảng dạy đạt chuẩn. Các chính sách của Đảng và Nhà nước trong những năm qua đã giúp công tác giáo dục có những chuyển biến tích cực và đạt được những thành tựu như: đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở bán trú, phổ cập giáo dục tiểu học, tỷ lệ học sinh giỏi, khá qua các năm đều tăng. Tuy nhiên, do xã Phan Thanh là khu vực miền núi vùng sâu, xa nên điều kiện kinh tế và nhận thức của nhân 3 dân còn hạn chế nên vẫn còn một số học sinh bỏ học giữa chừng để đi làm phụ giúp gia đình [8].
Chương trình tập huấn Thực hiện theo nhiệm vụ tổ chức Chương trình tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch tại các huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thạch An năm 2024 của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng. Ngày 23/12/2024 tại UBND xã Phan Thanh khai giảng lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch với 80 học viên đến từ các xóm trên địa bàn xã Phan Thanh. Thông qua lớp tập huấn, các học viên được trang bị thêm kiến thức, giao lưu, học hỏi và thực hành kỹ năng nghề du lịch, góp phần trao truyền nghề trong cộng đồng dân tộc mình tại địa phương [9]. Tiềm năng của xã Phan Thanh 1.
Thuận lợi Xã có tuyến đường liên xã Cao Sơn – Phan Thanh đi qua địa bàn xã, tuyến đường đã được trải nhựa, đồng thời cách thị trấn Nguyên Bình 32 km và thị trấn Tĩnh Túc 18 km, giao thông thuận tiện cho phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa giữa xã và các địa phương khác. Xã có diện tích đất nông nghiệp lớn chiếm 91,55% tổng diện tích tự nhiên, cộng với điều kiện lượng mưa lớn rất thuận lợi để phát triển trồng rừng kinh tế. Ngoài ra xã Phan Thanh có tiềm năng phát triển ngành thủy điện vừa và nhỏ [2], [10]. Khó khăn Địa hình chủ yếu là đồi núi dốc, chia cắt mạnh, việc đi lại giữa các xóm còn gặp nhiều khó khăn.
Hiện tượng sạt lở đất thường xảy ra trong mùa mưa lũ, gây ra những thiệt hại về tài sản, mất ổn định về đời sống của nhân dân trong xã. Giao thông tuy đầy đủ nhưng chất lượng kém, đường xóm chủ yếu là đường đất nên gây nhiều khó khăn trong việc đi lại cũng như sản xuất, sinh hoạt của nhân dân, nhất là vào mùa mưa [10]. Nghiên cứu cây thuốc đã được thực hiện ở xã Phan Thanh Chỉ có 01 nghiên cứu được thực hiện tại xã Phan Thanh. Đó là nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong một số trạng thái thảm thực vật ở xã Phan thanh, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng năm 2017, xác định được 372 loài cây, 263 chi, 96 họ thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch.
Trong đó có 287 loài được sử dụng làm thuốc [3]. Ngoài ra, chưa có nghiên cứu nào về tri thức bản địa của các dân tộc Dao nói riêng và các dân tộc khác nói chung trong địa bàn xã Phan Thanh và khu vực huyện Nguyên Bình. Dân tộc Dao tại Việt Nam 1. Nguồn gốc và di cư Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Họ tự nhận mình là con cháu của Bàn Hồ (Bàn Vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng của người Dao. Họ bắt đầu di cư sang Việt Nam từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX [11]. Tổng số người Dao tại Việt Nam năm 2019 là 891.151 người, sinh sống nhiều ở các tỉnh vùng núi phía Bắc [12]. Các nhóm người Dao chính ở Việt Nam bao gồm: Dao Đỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng, Dao Dụ Lạy, Dao Đại Bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn Dầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô Gang (Dao Thanh Phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền, Dao Quản Trắng ( Dao Quản Trắng), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao Áo Dài) [11].
Hoạt động sản xuất Làm ruộng bậc thang và canh tác trên đất dốc là những phương thức phổ biến trong sản xuất nông nghiệp của người Dao. Tùy theo từng nhóm dân tộc và địa phương, mỗi hình thức canh tác lại có sự nổi trội riêng: người Dao Quản trắng, Dao áo dài, Dao Thanh Y chủ yếu trồng ruộng nước, trong khi người Dao Đỏ lại chủ yếu thực hiện thổ canh hốc đá. Cây lương thực chính của dân tộc Dao bao gồm lúa, ngô và các loại rau màu như bầu, bí, khoai. Bên cạnh đó, họ còn chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, và ở những vùng núi cao hơn họ còn nuôi ngựa, dê.
Ngoài ra, nghề trồng bông và dệt vải rất phổ biến trong cộng đồng Dao và họ cũng ưa chuộng việc nhuộm chàm [13], [14]. Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nghề thợ bạc là nghề truyền thống, chuyên sản xuất các đồ trang sức như vòng cổ, vòng tay, vòng chân, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu. Các nhóm Dao và Dao Tiền có nghề làm giấy bản, dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát, hoặc để viết sớ, tiên ma trong các lễ nghi.
Ngoài ra, còn có các nghề khác như ép dầu thắp sáng, dầu ăn, và làm đường mật [11]. Ẩm thực Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, là bữa trưa và bữa tối, chỉ vào những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Họ chủ yếu ăn cơm, nhưng ở một số nơi, ngô có thể được ăn nhiều hơn cơm hoặc thay thế cơm bằng cháo. Cối xay lúa thường được làm bằng gỗ và đồng dâm tre, trong khi cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối giã bằng chày tay, cối đạp chân và cối giã dùng sức nước [11].
Người Dao ưa thích các món thịt luộc, thịt sấy khô, thịt ướp chua, và canh măng chua. Sau khi ăn, họ kiêng không để đũa ngang miệng bát, vì cho rằng đó là dấu hiệu 5 trong nhà có người chết. Rượu cất là thức uống chủ yếu của người Dao, tuy nhiên, ở một số nơi, họ lại uống rượu hoàng, một loại rượu không qua chưng cất, có vị chua và ít cay. Ngoài ra, người Dao cũng thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điều cày hoặc tẩu [14].
Trang phục Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhân. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau.