Tổng quan nghiên cứu

Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới phía Đông Bắc với diện tích tự nhiên đạt 818.725 ha, nơi có 84,74% dân số là đồng bào các dân tộc thiểu số cùng chung sống lâu đời. Trong đó, dân tộc Nùng chiếm tỷ lệ đông nhất toàn tỉnh với 43,9%, tiếp theo là người Tày chiếm 35,3% và người Kinh chiếm 15,3%. Trải qua hàng trăm năm thích ứng với địa hình núi đá vôi hiểm trở và điều kiện thời tiết khắc nghiệt, cộng đồng người Nùng đã kiến tạo nên một kho tàng tri thức bản địa vô cùng đồ sộ trong canh tác nông lâm nghiệp. Tuy nhiên, trước làn sóng đô thị hóa mạnh mẽ, việc lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật và tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, hệ thống tri thức dân gian quý báu này đang đứng trước nguy cơ mai một nhanh chóng.

Đề tài nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ hệ thống tri thức bản địa của người Nùng trong hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và quản lý rừng, lấy địa bàn trọng điểm là huyện Bình Gia. Đây là địa phương có diện tích tự nhiên rộng 1.090,6 km2 và tỷ lệ người Nùng chiếm tới 59,81% cơ cấu dân cư. Quá trình khảo sát thực địa được triển khai liên tục từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 9 năm 2020 nhằm thu thập dữ liệu gốc chân thực nhất.

Ý nghĩa của công trình nghiên cứu thể hiện rõ ở việc cung cấp luận cứ khoa học địa lý cho công tác bảo tồn di sản văn hóa tộc người, đồng thời định hướng giải pháp phát triển sinh kế bền vững. Việc khôi phục và ứng dụng hợp lý tri thức truyền thống ước tính giúp nâng cao từ 15% đến 20% thu nhập thực tế cho các nông hộ vùng cao, hạn chế rửa trôi thoái hóa đất dốc và giữ vững tỷ lệ che phủ rừng đầu nguồn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết sinh thái nhân văn và tiếp biến không gian văn hóa trong địa lý nhân văn, dựa trên các nghiên cứu nền tảng của Louise Grenier năm 1998 và Giáo sư Ngô Đức Thịnh năm 2004. Đồng thời, đề tài tích hợp khung phân tích sinh kế bền vững cùng lý thuyết hệ thống tri thức bản địa của Warren năm 1980 và Hoàng Xuân Tý năm 1998. Hệ thống lý luận này khẳng định tri thức bản địa không hề đối lập mà có thể tương hỗ chặt chẽ với kiến thức khoa học hiện đại nhằm giải quyết các thách thức tài nguyên cục bộ.

Khung nghiên cứu vận hành xung quanh 4 khái niệm trung tâm bao gồm: tri thức bản địa trong canh tác đất dốc, hệ sinh thái nông lâm nghiệp truyền thống, quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, và tính thích ứng sinh kế tộc người. Về mặt phân loại, luận văn chuẩn hóa hệ thống tri thức dân gian của người Nùng thành 4 nhóm nhận thức cốt lõi: tri thức về môi trường tự nhiên, tri thức về kỹ thuật sản xuất, tri thức về tổ chức xã hội và tri thức văn hóa tâm linh. Đồng thời, các kinh nghiệm thực hành được phân định rõ qua 5 lĩnh vực: chọn giống và thời vụ, quản lý đất và nước, chăn nuôi thú y dân gian, khai thác lâm sản ngoài gỗ, và bảo tồn rừng đầu nguồn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng từ số liệu niên giám thống kê tỉnh Lạng Sơn năm 2019, các báo cáo kinh tế xã hội huyện Bình Gia, kết hợp tư liệu khảo sát điền dã thực tế. Quá trình thu thập thông tin định lượng sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi với cỡ mẫu 180 hộ gia đình nông dân người Nùng tại 4 xã đại diện là Tân Văn, Tô Hiệu, Thiện Thuật và Yên Lỗ. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp kỹ thuật quả cầu tuyết được áp dụng triệt để nhằm đảm bảo mẫu điều tra phản ánh chính xác các mức độ chênh lệch về độ cao địa hình, điều kiện thổ nhưỡng và mức độ tiếp cận thị trường.

Bên cạnh khảo sát bảng hỏi, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 30 cá nhân tiêu biểu được lựa chọn trong tổng số 117 người có uy tín là dân tộc Nùng trên địa bàn huyện Bình Gia. Quá trình điền dã thực địa diễn ra trong 14 tháng, xuyên suốt chu kỳ mùa vụ từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 9 năm 2020.

Phương pháp thống kê mô tả kết hợp phân tích đối sánh không gian được lựa chọn làm công cụ phân tích chủ đạo. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ đặc thù của khoa học địa lý: vừa cần định lượng hóa các chỉ số năng suất, thu nhập và tỷ lệ tiếp cận kỹ thuật của nông hộ, vừa cần đối sánh trực quan mối quan hệ nhân quả giữa điều kiện địa hình, thời tiết và tập quán canh tác của từng bản làng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện đầu tiên ghi nhận người Nùng sở hữu lịch thời vụ thích ứng thời tiết vô cùng chuẩn xác. Lạng Sơn có nền nhiệt trung bình năm 20,8 độ C, độ ẩm 82% và lượng mưa bình quân 1540 mm tập trung chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 9. Đồng bào đã sáng tạo hệ thống xen canh luân vụ chặt chẽ: ngô xuân kết hợp gieo mạ vụ xuân hè, cấy lúa mùa sớm và trồng xen các loại đậu đỗ vào gốc ngô chiêm. Thực tiễn chứng minh việc trồng xen cây họ đậu giúp bổ sung lượng đạm tự nhiên cho đất, giúp các hộ canh tác cắt giảm được khoảng 30% đến 40% chi phí phân bón hóa học so với thói quen độc canh thông thường.

Phát hiện thứ hai chỉ ra phương thức quản lý tài nguyên rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp mang tính bảo tồn cao. Bình Gia là vùng chuyên canh hồi trọng điểm, nơi cây hồi đóng vai trò cây sinh kế chủ lực. Trong lâm nghiệp tự nhiên, người Nùng luôn tuân thủ nguyên tắc khi chặt cây gỗ phải chừa lại phần gốc cao từ 50 cm đến 100 cm để thân cây tiếp tục đâm chồi tái sinh. Biện pháp này bảo vệ hiệu quả tầng phủ đất mặt, đặc biệt tại khu vực có tầng đất dày trên 100 cm chiếm 70% diện tích điều tra thổ nhưỡng. Doanh thu từ rừng hồi và cây ăn quả chiếm tỷ trọng bình quân tới 52% tổng thu nhập tiền mặt của các hộ gia đình khảo sát.

Phát hiện thứ ba phản ánh thực trạng biến đổi và mai một tri thức truyền thống giữa các thế hệ. Kết quả điều tra thực tế chỉ ra có 68,5% thanh niên người Nùng dưới 30 tuổi không còn nắm rõ các dấu hiệu dự báo thời tiết bằng kinh nghiệm dân gian và phương thuốc thảo mộc chữa bệnh cho gia súc. Ngược lại, có tới 92,3% nguồn tri thức tinh hoa về chọn đất, giữ giống và bảo tồn cây dược liệu hiện chỉ tập trung ở nhóm người cao tuổi từ 55 tuổi trở lên.

Phát hiện thứ tư khẳng định vị thế điều phối then chốt của 117 người có uy tín dân tộc Nùng tại huyện Bình Gia, chiếm 62,2% trong tổng số 188 người có uy tín toàn huyện. Đội ngũ già làng, trưởng bản và trưởng dòng họ này giữ vai trò duy trì các quy ước cộng đồng, điều tiết việc chia sẻ nguồn nước tự nhiên từ khe suối và bảo vệ nghiêm ngặt các cánh rừng cấm, rừng thiêng của bản làng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến sự thích ứng bền vững trong tri thức bản địa của người Nùng bắt nguồn từ áp lực sinh tồn tại vùng sơn địa Đông Bắc. Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau có lượng mưa bình quân chỉ 44,5 mm mỗi tháng, kết hợp hiện tượng sương muối và nhiệt độ mùa đông có thời điểm xuống tới -1,0 độ C gây khô hạn gay gắt. Hoàn cảnh khắc nghiệt buộc người dân phải tích lũy các kỹ thuật giữ ẩm bằng xác bã thực vật và đào mương phai dẫn nước tự chảy. Tuy nhiên, sự xuất hiện ồ ạt của các loại phân bón vô cơ, thuốc trừ cỏ và giống cây biến đổi gen trong thập niên vừa qua đã làm suy giảm nghiêm trọng động lực gìn giữ các giống lúa, ngô bản địa chịu hạn.

Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu của Hoàng Xuân Tý năm 1998 và Phạm Quang Hoan năm 2005 về các tộc người vùng cao phía Bắc, kết quả nghiên cứu tại Lạng Sơn cho thấy tri thức của người Nùng có tính thực tiễn cao hơn trong mô hình kinh tế vườn đồi, đặc biệt là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bảo tồn cây hồi với chế biến ẩm thực truyền thống như thịt lợn quay mắc mật và làm bánh khẩu sli. Dữ liệu thực nghiệm này có thể được mô hình hóa trực quan rất rõ ràng qua biểu đồ phân bố lượng mưa kết hợp nhiệt độ theo 12 tháng, cùng bảng ma trận so sánh hiệu quả kinh tế sinh thái giữa mô hình canh tác đa canh truyền thống và mô hình chuyên canh sử dụng hóa chất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tiến hành số hóa toàn diện và lập bản đồ phân bố tri thức bản địa nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì đề án, đặt mục tiêu lập hồ sơ lưu trữ điện tử cho 100% kinh nghiệm bản địa tiêu biểu và bảo tồn tại chỗ ít nhất 50 nguồn gen cây trồng, vật nuôi đặc hữu của người Nùng trong khung thời gian từ năm 2022 đến năm 2024.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng tầm chuỗi giá trị nông lâm sản truyền thống gắn liền với Chương trình Mỗi xã một sản phẩm. Ủy ban nhân dân huyện Bình Gia phối hợp cùng các hợp tác xã nông nghiệp tổ chức chuyển giao kỹ thuật thu hái, bảo quản hồi và chế biến mắc mật sạch. Phấn đấu đến năm 2025 nâng tỷ lệ sản phẩm bản địa đạt chứng nhận 3 sao đến 4 sao thêm 35%, trực tiếp gia tăng giá trị xuất khẩu cho sản phẩm hoa hồi và nông sản chế biến.

Thứ ba, xây dựng mạng lưới Câu lạc bộ Nông lâm nghiệp sinh thái bản địa tại 19 xã và 01 thị trấn của huyện Bình Gia. Giao Huyện đoàn và Hội Nông dân huyện trực tiếp điều hành, phát huy vai trò truyền dạy thực cảnh của 117 người có uy tín dân tộc Nùng cho thế hệ trẻ. Chỉ tiêu cụ thể là tổ chức tập huấn cho tối thiểu 1.200 đoàn viên, thanh niên nông thôn về kỹ năng canh tác hữu cơ kết hợp tri thức dân gian trong giai đoạn 2023 - 2025.

Thứ tư, thể chế hóa hương ước bảo vệ rừng gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Chi cục Kiểm lâm lồng ghép các điều khoản bảo vệ mỏ nước, rừng đầu nguồn vào quy ước của 148 thôn đặc biệt khó khăn tại huyện Bình Gia. Mục tiêu nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn huyện đạt trên 65% vào năm 2026, đồng thời bảo đảm mức hỗ trợ tài chính tối thiểu 450.000 đồng mỗi hecta mỗi năm cho các tổ tuần tra rừng cộng đồng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách nông nghiệp vùng dân tộc thiểu số bao gồm Ban Dân tộc tỉnh và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực chứng tại 19 xã của huyện Bình Gia, hỗ trợ xây dựng kế hoạch hành động thích ứng biến đổi khí hậu sát hợp với tập quán canh tác của 84,74% đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Nhóm các nhà nghiên cứu khoa học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Địa lý học, Dân tộc học và Quản lý tài nguyên môi trường. Tài liệu mang lại một khung tham chiếu chuẩn mực về phương pháp tiếp cận địa lý nhân văn, dữ liệu phân tích 16 tiểu vùng địa lý thổ nhưỡng Lạng Sơn và bộ công cụ phỏng vấn điền dã thực tế rất hữu ích cho các công trình nghiên cứu học thuật kế tiếp.

Nhóm doanh nghiệp nông nghiệp, chủ trang trại và các hợp tác xã khởi nghiệp vùng cao. Các đơn vị này có thể khai thác trực tiếp những kinh nghiệm bản địa về điều kiện sinh thái cây hồi, lá mắc mật và kỹ thuật làm bánh khẩu sli để phát triển các dòng sản phẩm nông nghiệp sinh thái, tối ưu hóa chuỗi cung ứng sản phẩm OCOP đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học.

Nhóm các tổ chức phi chính phủ và ban điều phối các dự án phát triển cộng đồng bền vững. Kết quả đánh giá về vai trò của 188 người có uy tín tại Bình Gia mang đến bài học kinh nghiệm sâu sắc để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế dựa vào nội lực cộng đồng, bảo đảm tỷ lệ đồng thuận của người dân địa phương đạt trên 85%.

Câu hỏi thường gặp

Tri thức bản địa của người Nùng trong sản xuất nông lâm nghiệp bao gồm những lĩnh vực cốt lõi nào?

Hệ thống tri thức này bao quát toàn diện kỹ thuật nhận biết đất đai với tầng dày trên 100 cm chiếm 70% diện tích Lạng Sơn, kinh nghiệm quan sát hiện tượng tự nhiên để định vị lịch mùa vụ, phương pháp trồng xen ngô đậu cải tạo đất và kỹ thuật khai thác rừng hồi bền vững. Đây là các kinh nghiệm sinh thái giúp tối ưu hóa sản xuất và bảo vệ môi trường vùng cao.

Tại sao đề tài lại lựa chọn huyện Bình Gia làm địa bàn nghiên cứu thực địa trọng điểm?

Huyện Bình Gia sở hữu diện tích tự nhiên rộng 1.090,6 km2 đứng thứ hai toàn tỉnh Lạng Sơn và có tới 59,81% dân số là người Nùng. Địa bàn này tập trung 117 người có uy tín dân tộc Nùng và còn lưu giữ nguyên vẹn các tập quán canh tác nông lâm nghiệp truyền thống, tạo nên mẫu nghiên cứu có tính đại diện khoa học sâu sắc.

Kinh nghiệm khai thác và tái sinh rừng của người Nùng có ưu điểm sinh thái gì nổi bật?

Khi khai thác gỗ, đồng bào luôn chặt chừa lại phần gốc cao từ 50 cm đến 100 cm để thân cây tiếp tục đâm chồi non tái sinh tự nhiên. Đồng thời, người dân chỉ hạ cây theo hướng tránh đè nát cây non và để thân gỗ khô tự nhiên trong rừng suốt 1 năm nhằm hạn chế tối đa nguy cơ sạt lở đất dốc trong mùa mưa bão.

Những nguyên nhân chính nào đang đe dọa sự tồn tại của tri thức bản địa tại địa phương?

Sự phụ thuộc vào phân bón hóa học, giống lai công nghiệp cùng sức hút của việc làm công nghiệp tại đô thị khiến 68,5% thanh niên nông thôn lơ là việc học hỏi kinh nghiệm truyền thống. Bên cạnh đó, phương thức truyền khẩu không qua văn bản ghi chép khiến nguồn tri thức chuyên sâu dễ dàng mất đi theo sự già hóa của các bậc cao niên.

Luận văn định hướng kết hợp tri thức bản địa với khoa học kỹ thuật hiện đại theo cơ chế nào?

Đề tài định hướng tích hợp kinh nghiệm dân gian về phân loại đất với công nghệ bản đồ số GIS dựa trên 16 tiểu vùng địa lý thổ nhưỡng của tỉnh. Sự kết hợp này giúp xây dựng hệ thống tưới tiết kiệm ứng phó hiệu quả với mùa khô chỉ có lượng mưa 44,5 mm mỗi tháng, bảo vệ nguồn nước ngầm và giữ vững độ phì nhiêu tự nhiên.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và kho tàng tri thức bản địa phong phú của dân tộc Nùng, tộc người chiếm 43,9% dân số tỉnh Lạng Sơn.
  • Minh chứng tính ưu việt của mô hình luân canh xen vụ ngô đỗ và canh tác rừng hồi tại huyện Bình Gia, nơi có 59,81% người Nùng cư trú.
  • Cảnh báo kịp thời nguy cơ đứt gãy tri thức thế hệ khi hơn 68% thanh niên chưa làm chủ các kỹ thuật nông lâm bản địa.
  • Khẳng định vai trò nòng cốt của 117 người có uy tín dân tộc Nùng trong việc dẫn dắt cộng đồng bảo vệ nguồn tài nguyên rừng và nước.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi nhằm nâng cao từ 20% đến 30% thu nhập nông hộ gắn liền với giữ vững cân bằng sinh thái.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa thành công các giá trị kinh tế sinh thái của tri thức tộc người Nùng dưới góc nhìn địa lý học ứng dụng hiện đại. Lộ trình tiếp theo cần tập trung triển khai thí điểm mô hình số hóa tri thức tại 17 xã đặc biệt khó khăn của huyện Bình Gia trong giai đoạn 2022 - 2025. Các cơ quan ban ngành, nhà khoa học và doanh nghiệp hãy chung tay hành động ngay hôm nay để gìn giữ, phát huy nguồn vốn tri thức bản địa vô giá này vào sự nghiệp phát triển bền vững của vùng đất xứ Lạng.