Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực ti n hoạt động giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN 1. Khái quát về tranh chấp thừa kế di sản là quyền sử dụng đất 1.1 Khái niệm về quyền sử dụng đất Theo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 của nước ta thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu khác nhau về đất đai: Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Theo Điều 31 Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 (đăng trên Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp) cũng quy định: “Người được chia ruộng đất có quyền sở hữu ruộng đất đó. Chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu cho người được chia.
Mọi khế ước cũ đều huỷ bỏ. Người được chia có quyền chia gia tài, cầm, bán, cho. ruộng đất được chia 1. Kể từ khi Hiến pháp năm 1980 có hiệu lực thì theo Điều 19 “đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa.
đều thuộc sở hữu toàn dân 2 và tại Điều 20 thì “những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật 3. Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai tiếp tục được khẳng định tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992 và Điều 53 Hiến pháp năm 2013. Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, trong đó đặc biệt là quy định về quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai, ví dụ như: “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn 1 Điều 31 Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 2 Điều 19 Hiến pháp năm 1980 3 Điều 20 Hiến pháp năm 1980 dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai 4 theo Điều 1 Luật Đất đai năm 2003 hoặc“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao QSDĐ theo quy định của Luật này 5 theo Điều 4 Luật Đất đai năm 2013.
Các quy định của pháp luật đất đai cho thấy, chỉ khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mới được thực hiện quyền của người sử dụng đất. Trên nguyên lý đó, mặc dù là chủ thể trực tiếp khai thác, sử dụng đất đai, nhưng người sử dụng đất không phải là chủ sở hữu đất đai và khi thực hiện các quyền của mình (ví dụ: Chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê. QSDĐ) thì phải được sự đồng ý (chấp thuận) của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với các điều kiện đã được pháp luật đất đai quy định. Đánh giá tổng quát sự khác biệt về quyền năng của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và người sử dụng đất với tư cách là người trực tiếp khai thác, sử dụng đất cho thấy: Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu, còn QSDĐ là quyền phái sinh; Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ, còn QSDĐ là một loại quyền không trọn vẹn, không đầy đủ.
Mặt khác, nếu nhìn ở góc độ QSDĐ của Nhà nước và QSDĐ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cũng cho thấy sự khác biệt rất rõ, đó là: Quyền sử dụng đất đai của Nhà nước phát sinh dựa trên cơ sở Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai nên quyền sử dụng đất này là vĩnh vi n, trọn vẹn và không bị ai hạn chế, còn quyền sử dụng đất của người sử dụng xuất hiện khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất. và phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước. Vì vậy, QSDĐ của họ bị Nhà nước hạn chế bởi diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng. Nếu như QSDĐ của Nhà nước mang tính 4 Điều 1 Luật Đất Đai 2003 5 Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 gián tiếp và trừu tượng thì ngược lại, QSDĐ của người sử dụng lại mang tính chất trực tiếp và cụ thể.
Tuy không thống nhất khái niệm quyền sở hữu đất và QSDĐ, nhưng trong số 05 quyền của người sử dụng đất tại Luật Đất đai năm 1993, sau đó mở rộng đến 10 quyền tại Luật Đất đai năm 2003 và 08 quyền tại Luật Đất đai năm 2013 có nhiều quyền mang tính chất định đoạt tài sản, nghĩa là việc thực hiện quyền dẫn đến thay đổi người sử dụng đất với tư cách là chủ thể trực tiếp quản lý, khai thác thửa đất, đó là quyền trao đổi, tặng cho, chuyển nhượng, góp vốn, thừa kế bằng QSDĐ. Nghiên cứu cho thấy, mặc dù thủ tục thực hiện các quyền nêu trên của người sử dụng đất tuy phức tạp hơn so với việc định đoạt các loại tài sản thông thường khác, nhưng nếu nhìn từ góc độ khoa học pháp lý thì sẽ d dàng nhận thấy quyền của người sử dụng đất thực chất là một tập hợp nhiều quyền năng về tài sản, trong đó bao gồm cả quyền định đoạt. Sự tồn tại thiếu rõ ràng của khái niệm “sở hữu kép cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến quá trình thực hiện quyền dân sự của người sử dụng đất. Bắt đầu từ thập niên 70 của thế kỷ XX, khái niệm QSDĐ đã được đề cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, với tên gọi ban đầu là quyền quản lý và sử dụng ruộng đất.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, luật pháp của Việt Nam vẫn chưa chính thức định nghĩa khái niệm QSDĐ. Theo Từ điển Luật học năm 2006, “QSDĐ là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế 6. Trong khi đó, Giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội thì cho rằng:"QSDĐ là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ 6 Từ điển Luật học năm 2006 cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước .7 Mặc dù nghiên cứu ở góc độ khác nhau, song nội hàm của các khái niệm về QSDĐ nêu trên có các đặc điểm chủ yếu như: QSDĐ là quyền khai thác giá trị của đất đai; chủ thể thực hiện việc khai thác chính là người sử dụng đất có thể là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và QSDĐ không phải là quyền sở hữu đất đai.8 Tuy nhiên, tôi cho rằng các định nghĩa trên vẫn chưa đầy đủ và rõ ràng về bản chất của đất đai là tài sản thuộc sở hữu của quốc gia. Tuy nhiên, khi nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sở hữu đất đai của các cá nhân hoặc doanh nghiệp Hơn nữa, công nhận quyền sở hữu đất ở giúp chính phủ thực hiện cơ chế phù hợp và hiệu quả để bảo vệ quyền sở hữu tư nhân theo nguyên tắc Hiến định.
Tiếp tục kế thừa và phát triển nội dung của các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đảng ta khẳng định QSDĐ là “một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu. 9 Nhìn từ phương diện kinh tế, một hàng hoá thông thường bao giờ cũng có giá trị và giá trị sử dụng, trong đó giá trị của hàng hoá được xác định bằng lao động kết tinh trong hàng hoá, nhưng giá trị của QSDĐ không được xác định thông qua quy luật thông thường, không có hao phí lao động nào được bỏ ra 7 Trần Quang Huy (Chủ biên 2016), Giáo trình Luật Đất đai, Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2016, tr. 8 Trần Quang Huy (Chủ biên 2016), Sđd, tr. 9 Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.
để hình thành nên đất. Hơn nữa, đối tượng của QSDĐ là đất đai, một tài sản thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu quản lý. Không giống với các hàng hoá thông thường mà chủ sở hữu được toàn quyền định đoạt, QSDĐ là loại hàng hoá mà sự tồn tại phụ thuộc rất nhiều vào ý chí của Nhà nước.10 Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy tính chất đặc biệt của loại hàng hoá “QSDĐ trên thị trường, cũng như để QSDĐ phát huy được vai trò là một loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường thì Nhà nước phải xác lập cơ chế quản lý hữu hiệu, phù hợp nhằm “t o c s pháp l cho việc hình thành và phát triển thị trư ng b t động sản bao g m cả QSDĐ từng bước m rộng thị trư ng b t động sản cho ngư i Việt Nam nước ngoài và ngư i nước ngoài đầu tư Việt Nam”. Từ góc độ kinh tế, hàng hóa thông thường bao giờ cũng có giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị của hàng hóa được xác định bởi giá trị của lao động kết tinh trong hàng hóa, nhưng giá trị của QSDĐ không được xác định bởi quy luật thông thường vì không có hao phí lao động nào Hơn nữa, đối tượng của QSDĐ là đất đai, một tài sản thuộc quyền sở hữu toàn dân và được quản lý bởi Nhà nước như một đại diện chủ sở hữu. QSDĐ là hàng hoá phụ thuộc rất nhiều vào ý chí của Nhà nước. Điều này khác với các hàng hoá thông thường mà chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt.