Chương 1 giúp định hướng cho việc thực hiện các chương tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR). Khái niệm về CSR Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là khái niệm được chú ý nhiều.
Có nhiều nghiên cứu nghiên cứu lý luận và thực nghiệm về vấn đề này, nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm nhất quán về CSR. Mỗi ngành nghề, tổ chức, chính phủ nhìn nhận CSR theo những gốc độ và quan điểm riêng, từ đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR. Vào những năm 1930, vấn đề CSR đã được đưa ra tranh luận tập trung vào trách nhiệm của nhà quản lý đối với xã hội. Tuy nhiên thuật ngữ CSR đã được chính thức lần đầu đưa ra bởi Bowen.
Bowen (1953) cho rằng CSR là nghĩa vụ của người làm kinh doanh trong việc đề xuất và thực thi các chính sách không làm tổn hại đến quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do doanh nghiệp gây ra cho xã hội. Theo McGuire (1963) Ý tưởng trách nhiệm xã hội giả định rằng doanh nghiệp không chỉ có nghĩa vụ kinh tế và pháp lý mà còn có trách nhiệm nhất định đối với xã hội mở rộng ra ngoài các nghĩa vụ này. Davis (1973) thì cho rằng CSR là sự quan tâm và phản hồi của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài các yêu cầu kinh tế, kỹ thuật và pháp lý của công ty. để thực hiện các lợi ích xã hội cùng với lợi ích kinh tế truyền thống mà công ty tìm kiếm.
Theo Frederick (1994) thì CSR là năng lực của một công ty để đối phó với áp lực xã hội, là hành động phản hồi; hoặc việc đáp ứng thái độ chung đối với xã hội. Định nghĩa của Carroll (1979, 1991) CSR là sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện của doanh nghiệp tại một thời điềm nhất định, đây là một trong những định nghĩa được nhiều nghiên cứu lựa chọn. Wood (1991) Hiệu quả xã hội của doanh nghiệp là cấu hình của các tổ chức kinh doanh về nguyên tắc trách nhiệm xã hội, quy trình phản hồi xã hội và chính sách, chương trình và kết quả quan sát khi chúng liên quan đến mối quan hệ xã hội của doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Ủy hội Châu Âu (European Commission, 2001) đưa ra ba yếu tố chính thường xuất hiện lại trong khái niệm CSR: Trên cơ sở tự nguyện, công ty thực hiện một số mục tiêu khác ngoài việc tối đa hóa lợi nhuận; Công ty có trách nhiệm, không chỉ đối với các cổ đông, mà còn cho tất cả các bên liên quan và xã hội rộng lớn hơn.
Trách nhiệm này nên thể hiện trong các chính sách, ra quyết định, quy trình kinh doanh, hoạt động hàng ngày và thông tin liên lạc của công ty. Thông thường, thuật ngữ này cũng đề cập đến các công ty làm nhiều hơn bình thường, và do đó là sáng tạo trong quản lý xã hội, sinh thái hoặc đạo đức của họ. Tóm lại, CSR là một khái niệm dễ thay đổi, vừa là phương tiện vừa là mục đích, là sự kết hợp của các yếu tố chiến lược công ty, CSR là một cách để hợp pháp hóa các hành động của công ty trong xã hội bằng cách ưu tiên các mối quan tâm của các đối tượng hữu quan. CSR thể hiện mức độ khám phá mong muốn của các đối tượng hữu quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Các cách tiếp cận về CSR: 2. Tiếp cận “kim thự tháp” của Archie B., Carroll (1999) Theo Carroll (1999), CSR sẽ bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Trách nhiệm kinh tế thể hiện ở việc tối đa hóa lợi nhuận, độ cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh và mức tăng trưởng. Đây là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận của các cổ đông.
Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp. Trách nhiệm tuân phủ pháp luật: Doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ pháp luật một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi. Tuân phủ pháp luật là một phần của bản cam kết giữa doanh nghiệp và xã hội. Trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng không được qui định vào văn bản luật.
Những chuẩn mực đạo đức rộng hơn những qui định của pháp luật, do vậy trách nhiệm tuân thủ pháp luật chỉ được coi là sự đáp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra. Doanh nghiệp cần phải thực hiện cả cam kết khác ngoài luật. Trách nhiệm từ thiện là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự trông đợi của xã hội, như quyên góp ủng hộ cho người nghèo, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng… Điểm khác biệt giữa trách nhiệm từ thiện và trách nhiệm đạo đức so với các trách nhiệm khác là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Tiếp cận CSR trong mối liên hệ với các bên liên quan Đa số các nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm xã hội theo cách tiếp cận của lý thuyết các bên liên quan.
Các bên liên quan là các đối tượng tham gia, ảnh hưởng hay hưởng lợi từ các hoạt động liên quan đến CSR bao gồm cổ đông/chủ sở hữu, cộng đồng, khách hàng, đối tác, người lao động. Theo Lee (2008) lý thuyết các bên liên quan phát triển lên từ lý thuyết thể chế. Nội dung về các bên liên quan đầu tiên xuất hiện trong lý luận quản lý từ thập niên 1960, tuy nhiên mãi đến thập niên 1980, nó mới chính thức được các học giả sử dụng. Cách tiếp cận lý thuyết các bên liên quan đầu tiên được Freeman (1984) trình bày về đạo đức kinh doanh trong một tổ chức.
Theo lý thuyết này, các bên liên quan là bất kỳ nhóm hay cá nhân bị ảnh hưởng, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, bởi các hoạt động của công ty. Öberseder et al (2013) cũng sử dụng lý thuyết các bên liên quan để xem xét các hoạt động CSR và nhận thức của khách hàng trong bối cảnh đánh giá hầu hết các bên liên quan. Bên cạnh cách tiếp cận theo mô hình kim tự tháp của Caroll (1999), cách tiếp cận theo lý thuyết các bên liên quan các nghiên cứu còn có các cách tiếp cận dựa trên lý thuyết Marketing, lý thuyết đầu tư có trách nhiệm xã hội; lý thuyết tổ chức, lý thuyết nhận dạng hành vi… để thực hiện các nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên để phục vụ cho bài nghiên cứu này, tác giả lựa chọn cách tiếp cận theo lý thuyết các bên liên quan, trong mối quan hệ với khách hàng và đối tượng cụ thể là người tiêu dùng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số quan điểm về quyền của người tiêu dùng: 2. Quyền của người tiêu dùng theo hướng dẫn của LHQ: Người tiêu dùng được bảo vệ trước những rủi ro tổn hại đến an toàn, sức khỏe của họ; được bảo vệ các lợi ích kinh tế; được có thông tin về sản phẩm và dịch vụ để việc lựa chọn của họ được đúng đắn; Người tiêu dùng có quyền được giáo dục về sản phẩm và dịch vụ, nhất là những tác động kinh tế, xã hội, môi trường từ lựa chọn của người tiêu dùng; quyền đổi sản phẩm, dịch vụ (sửa những gì không công bằng hay sai sót): đổi sản phẩm mới, trả lại tiền cho những dịch vụ không đúng cam kết; quyền được lập hội tiêu dùng để bảo vệ quyền lợi. Quyền phát biểu và được lắng nghe – khiếu nại với người bán lẻ hay người cung cấp dịch vụ; quyền có môi trường tiêu dùng lành mạnh, bền vững.
Theo ISO 2600 về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong mối liên hệ với khách hàng / người tiêu dùng: Thực hành Marketing công bằng, thông tin xác thực, không định kiến và hợp đồng công bằng sao cho người tiêu dùng có thể hiểu được. Điều này cho phép người tiêu dùng đưa ra các quyết định có hiểu biết về việc tiêu dùng và mua sắm cũng như so sánh các đặc điểm của các sản phẩm và dịch vụ khác nhau. Bảo vệ sức khỏe và an toàn của người tiêu dùng bao gồm cung cấp sản phẩm và dịch vụ an toàn và không chứa đựng rủi ro nguy hại khi sử dụng hay tiêu dùng. Các chỉ dẫn rõ ràng để sử dụng an toàn, bao gồm cả lắp ráp và bảo trì, cũng là một phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe và an toàn.
Dịch vụ, hỗ trợ người tiêu dùng và giải quyết khiếu nại, tranh chấp là các cơ chế tổ chức dùng để giải quyết các nhu cầu của người tiêu dùng sau khi sản phẩm và dịch vụ đã được bán hay cung cấp. Cung cấp cho người tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ có lợi về mặt xã hội và môi trường; loại bỏ, khi có thể, hoặc giảm thiểu mọi tác động tiêu cực của sản phẩm đến sức khỏe và môi trường, và khi có các biện pháp thay thế ít tổn hại và hiệu quả hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Các sáng kiến giáo dục và nhận thức cho phép người tiêu dùng được thông tin đầy đủ, có ý thức về quyền và trách nhiệm của mình, có khả năng đảm đương vai trò chủ động và có thể đưa ra các quyết định mua hàng có hiểu biết cũng như tiêu dùng có trách nhiệm. Trách nhiệm đối với khách hàng theo GRI: Theo GRI- 416 (2016), khách hàng kỳ vọng rằng các sản phẩm và dịch vụ thực hiện chức năng dự kiến của chúng một cách thỏa đáng, và không gây ra rủi ro cho sức khỏe và an toàn.
Khách hàng có quyền có các sản phẩm không nguy hại. Khi sức khỏe và sự an toàn của mình bị ảnh hướng, khách hàng có quyền bồi thường. Theo GRI- 417 (2016), Khách hàng được tiếp cận thông tin đầy đủ và chính xác về các tác động tích cực và tiêu cực về mặt kinh tế, môi trường và xã hội của các sản phẩm và dịch vụ mà họ tiêu dùng – từ cả khía cạnh nhãn hiệu sản phẩm và dịch vụ và khía cạnh truyền thông tiếp thị. Truyền thông tiếp thị công bằng và có trách nhiệm cũng như khả năng tiếp cận thông tin về cấu phần của sản phẩm, và cách sử dụng và tiêu dùng sản phẩm đúng cách, có thể giúp khách hàng đưa ra những lựa chọn thấu đáo.