CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Những nghiên cứu về CSR đã được ghi nhận từ những năm 60 thế kỷ trước, với hai quan điểm khác biệt về mục đích là nhằm để tối đa hóa giá trị cổ đông hay là để tạo ra giá trị cho xã hội. Quan điểm về CSR đã có sự dịch chuyển dần vào khoảng những năm 1990, từ việc đáp ứng nghĩa vụ với xã hội sang cấp độ cao hơn là chiến lược.
Khi đó các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc đưa các hoạt động xã hội vào mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Xuyên suốt quá trình phát triển, có nhiều nghiên cứu về CSR nói chung và mối quan hệ giữa CSR với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, hay giá trị thương hiệu và sự trung thành tín nhiệm của khách hàng. Một số nghiên cứu tiêu biểu như: Steven Brammer và cộng sự (2007) trong công trình “The Contribution of Corporate Social Responsibility to Organisational Commitment” đã chỉ ra rằng CSR gồm các thành phần: CSR đối với xã hội, CSR đối với môi trường, CSR đối với khách hàng, CSR đối với các bên liên quan, CSR đối với pháp luật, CSR về công bằng trong chính sách, CSR về đào tạo nhân viên. Đồng thời cũng chỉ ra mối tương quan giữa các thành phần đến nhân viên, và CSR công bằng trong chính sách có tác động mạnh nhất đến sự gắn bó với tổ chức; tiếp đến là CSR môi trường và cuối cùng là CSR về đào tạo nhân viên.
Nghiên cứu cho thấy sự tương quan tỷ lệ thuận giữa độ tuổi; vị trí công việc trong công ty; hay thời gian làm việc và sự gắn bó đối với doanh nghiệp. Duygu Turker (2008) với công trình “How Corporate Social Responsibility Influences Organizational Commitment” đã cho rằng CSR gồm các thành phần: CSR đối với các bên liên quan về xã hội và phi xã hội, CSR đối với nhân viên, CSR đối với khách hàng và CSR đối với chính phủ. Theo Duygu Turker, hoạt động liên 5 quan đến các thành phần này của doanh nghiệp sẽ tác động đến mức độ gắn bó của nhân viên với doanh nghiệp thông qua lý thuyết bản sắc xã hội. Nghiên cứu cùng chỉ ra mức độ ảnh hưởng lớn nhất của thành phần CSR đối với nhân viên đến mức độ gắn bó của nhân viên với doanh nghiệp bởi nó trực tiếp liên quan đến các yếu tố nghề nghiệp, cơ hội đào tạo phát triển, quyền bình đẳng và môi trường làm việc.
CSR đối với khách hàng là thành phần ảnh hưởng thứ hai bởi nó liên quan đến hình ảnh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến niềm tự hào của nhân viên khi làm việc trong doanh nghiệp. Các thành phần là CSR đối với các bên liên quan (xã hội và phi xã hội) và CSR đối với chính phủ có mức độ ảnh hưởng sau cùng đến sự gắn bó của nhân viên. Imran Ali và cộng sự (2010) với nghiên cứu “Corporate social responsibility influences, employee commitment and organizational performance”. Đã xem xét ảnh hưởng của CSR đến sự trung thành của nhân viên với doanh nghiệp, đồng thời cũng nghiên cứu CSR và sự trung thành của nhân viên tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Với số lượng mẫu điều tra hơn 350 người làm việc trong nhiều công ty, ngành nghề khác nhau tại Pakistan. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thúc đẩy sự gắn bó của nhân viên với doanh nghiệp, bởi lẽ nó bao gồm những hoạt động có lợi cho nhân viên hay gia đình họ. Ali và cộng sự cũng chỉ ra sự tương quan giữa CSR và sự gắn bó của nhân viên với công ty, những hoạt động CSR góp phần khiến nhân viên tự hào hơn về công ty, do đó thúc đẩy họ làm việc, lao động hiệu quả hơn. Ngoài ra CSR cũng góp phần cải thiện uy tín của công ty với khách hàng, đối tác, các nhà đầu tư hay chính quyền, thúc đẩy các đối tượng này đưa ra những quyết định có lợi cho chính công ty.
CSR còn góp phần mang tạo lợi thế cạnh tranh, cải thiện kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Năm 2012, Imran Ali và cộng sự tiếp tục có nghiên cứu mối quan hệ giữa CSR nội bộ và sự gắn bó của nhân viên. Kết quả chỉ ra rằng, sự gắn bó của nhân viên với doanh nghiệp bao gồm hai thành phần quan trọng là sự gắn bó với công việc và sự gắn bó với tổ chức. Khảo sát điều tra số lượng mẫu hơn 300 người là nhân viên các ngân hàng ở Jordan đã chỉ ra rằng các yếu tố CSR nội bộ có tương 6 quan tỷ lệ thuận với sự gắn bó của nhân viên.
Điều đáng nói là CSR nội bộ có tác động mạnh hơn đến sự gắn bó với doanh nghiệp so với sự gắn bó với công việc của nhân viên. Mirvis (2012) khi nghiên cứu tác động của CSR đến động lực làm việc, đặc tính và ý nghĩa của mục đích làm việc của các nhân viên đã chỉ ra ba phương pháp, quan điểm tiếp cận mà thông qua hoạt động CSR các doanh nghiệp có thể có được sự gắn bó của cán bộ nhân viên. - Một là quan điểm tiếp cận trao đổi: doanh nghiệp thiết kế các chương trình CSR để đáp ứng nhu cầu của nhân viên muốn tham gia vào những nỗ lực thực hiện CSR của doanh nghiệp. Quan điểm này cũng đi liền với các hoạt động quản trị nguồn nhân lực của công ty.
- Hai là quan điểm tiếp cận quan hệ dựa trên tâm lý rằng doanh nghiệp và cán bộ nhân viên cùng thực hiện CSR, quan điểm này cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng văn hóa doanh nghiệp với trách nhiệm xã hội tốt. - Ba là quan điểm tiếp cận phát triển hướng đến mục tiêu thúc đẩy người lao động tạo ra giá trị lớn hơn cho cả doanh nghiệp và xã hội. Quan điểm này đòi hỏi việc mở rộng các hoạt động CSR để lôi kéo tham gia của tất cả người lao độngvà các bên liên quan. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho thấy ngày càng có nhiều nhân viên tham gia vào các hoạt động CSR của tổ chức.
Đây là thực tế đáng mừng vì nó không chỉ xuất hiện ở những nước phát triển mà đã hình thành ở các nước đang phát triển như Ấn Độ, Nam Phi và Trung Quốc. Iqbal và cộng sự (2012) với công trình “Testing the Arbitrage Pricing Theory on Karachi Stock Exchange”, đã đánh giá mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tại hơn 150 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán. Và kết quả cho thấy các doanh nghiệp có CSR tiêu cực thường có ảnh hưởng đến thị giá (hay giá trị thị trường) của doanh nghiệp nhưng không có mối quan hệ tác động giữa CSR với việc sử dụng đòn bẩy tài chính tại doanh nghiệp. Mujahid và Abdullah (2014) với công trình “Impact of Corporate Social 7 Responsibility on Firms Financial Performance and Shareholders Wealth” đã điều tra tác động của CSR đến hiệu quả hoạt động về tài chính của các doanh nghiệp cũng như lợi nhuận của các chủ sở hữu doanh nghiệp này.
Kết quả thu được cho thấy ảnh hưởng tích cực và mức độ tác động đáng kể đến các vấn đề này của doanh nghiệp. Adamu và Yusoff (2016) với công trình “The Relationship between Corporate Social Responsibility and Financial Performance: Evidence from Malaysia”. Trong nghiên cứu này, các học giả đã thực hiện đánh giá tác động của CSR đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp tại Malaysia. Với bốn biến nghiên cứu độc lập: môi trường; cộng đồng; nơi làm việc; thị trường cùng hai biến phụ thuộc: Thu nhập mỗi cổ phiếu và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.
Hai tác giả này cũng đồng tình với các nghiên cứu trên khi khẳng định ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp của CSR. Các nghiên cứu trong nước: Ở nước ta, vấn đề trách nhiệm xã hội không còn là vấn đề mới mẻ bởi đã được nghiên cứu từ đầu những năm 90. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, các công trình, bài viết nghiên cứu về CSR cũng được các tác giả thực hiện với qui mô, thời gian và không gian nghiên cứu khác nhau. Tuy vậy, các công trình này lại mang tính độc lập, thiếu hệ thống nên ít có tính kế thừa, hoàn thiện tạo thành những tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp thực hiện.
Nội dung của các công trình vẫn chủ yếu làm rõ lý luận cơ bản và đánh giá những lợi ích của CSR đối với doanh nghiệp Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về CSR nội bộ và sự hài lòng của nhân viên còn tương đối ít. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Tác giả Trần Thị Minh Hòa, Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2014) trong bài viết “Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh khách sạn tại Việt Nam – nghiên cứu trường hợp tại khách sạn Sofitel Legend Metropole và Sofitel Plaza Hà Nội” cho thấy việc thực hiện CSR trong kinh doanh khách tại Việt Nam đem lại các lợi ích như: - Nâng cao năng lực nguồn nhân lực - Nâng cao hiệu quả quản lý và quá trình cung ứng 8 - Nâng cao chất lượng và giá cả phụ vụ - Đảm bảo tốt hiệu suất các quá trình cốt lõi - Giảm chi phí chung trên cùng đơn vị sản phẩm phục vụ - Gia tăng giá trị hình ảnh và danh tiếng thương hiệu - Mở rộng mạng lưới phân phối, nâng cao hiệu suất truyền thông - Mở rộng thị trường và gia tăng mức tăng trưởng thị phần - Tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận - Nâng cao vị thế tài chính Tác giả Nguyễn Phương Mai với rất nhiều nghiên cứu về quan điểm, lý luận và thực tiễn thực hiện CSR tại Việt Nam - Năm 2011 tác giả nghiên cứu việc triển khai CSR tại Công ty Cổ phần may Đáp Cầu. Tác giả đã chỉ ra sự khác biệt về nhận thức giữa người lao động và cấp quản trị đồng thời khẳng định những kết quả tốt của doanh nghiệp này trong việc thực hiện CSR.
- Năm 2014 tác giả thực hiện nghiên cứu về tương quan thuận giữa việc thực hiện CSR nội bộ với sự hài lòng trong công việc của người lao động.