Mở đầu - trình bày tổng quan nghiên cứu, bao gồm tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn cũng như kết cấu các chương của luận án. 9 luan an Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu - trình bày tổng quan tài liệu nghiên cứu về TNXH, giá trị thương hiệu và hiệu quả tài chính. Chương này tác giả tổng kết lý thuyết các bên liên quan, định nghĩa các khái niệm TNXH, giá trị thương hiệu dựa vào khách hàng, giá trị thương hiệu dựa vào nhân viên và hiệu quả tài chính. Tác giả tiếp tục tổng kết, phân tích, bình luận các công trình nghiên cứu về tác động của TNXH đến giá trị thương hiệu và hiệu quả tài chính, đồng thời tác động của giá trị thương hiệu đến hiệu quả tài chính.
Kết quả tổng kết lý thuyết là cơ sở cho việc tìm ra khoảng trống lý thuyết. Trên cơ sở lược khảo tài liệu, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu - trình bày thiết kế nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Kết quả nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn chuyên gia và phân tích nội dung để làm cơ sở xây dựng thang đo chính thức.
Thiết kế nghiên cứu định lượng trình bày chi tiết bộ biến đo lường các khái niệm, cách chọn mẫu cho nghiên cứu chính thức và các phương pháp phân tích số liệu được sử dụng trong luận án. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - trình bày thực trạng các hoạt động TNXH, giá trị thương hiệu và HQTC của 29 NHTMCP. Sau đó, chương 4 tiếp tục trình bày một số đặc điểm thống kê cơ bản và kết quả nghiên cứu cho nhóm khách hàng và nhóm nhân viên. Kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha đạt yêu cầu và phân tích nhân tố khám phá EFA gom thành 05 khía cạnh để đo lường các khái niệm TNXH.
Phân tích nhân tố khẳng định CFA đã được sử dụng để đánh giá bộ thang đo đạt yêu cầu về mặt thống kê. Thêm vào đó, chương 4 còn trình bày kết quả kiểm định các giả thuyết, phân tích đa nhóm theo giới tính cho nhóm khách hàng, theo đối tượng cho nhóm nhân viên và phân tích tác động trực tiếp, gián tiếp. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị - trình bày các cơ sở để đề xuất hàm ý quản trị dựa trên kết quả nghiên cứu. Có bảy hàm ý quản trị được trình bày trong chương 5 này bao gồm: xây dựng chiến lược trách nhiệm xã hội trong dài hạn, công đoàn tăng cường tổ chức các hoạt động TNXH, tuân thủ các quy định, chuẩn mực đạo đức, tăng cường công bố thông tin liên quan đến TNXH, thiết kế các hoạt động TNXH hướng tới từng đối tượng khách hàng, tập trung từng khía cạnh TNXH và tăng cường giá trị thương hiệu nhằm gia tăng giá trị thương hiệu và hiệu quả tài chính.
Kết luận và kiến nghị trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, các kiến nghị, một số hạn chế nhất định của luận án và đề xuất định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo. 10 luan an CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 LÝ THUYẾT CÁC BÊN LIÊN QUAN Thuật ngữ “các bên liên quan” xuất hiện đầu tiên trong Bản ghi nhớ nội bộ của trung tâm nghiên cứu Stanford (SRI) năm 1963 trình bày về đạo đức kinh doanh (Freeman, 1984). Các bên liên quan là các đối tượng tham gia, ảnh hưởng hay hưởng lợi từ các hoạt động liên quan đến TNXH bao gồm cổ đông/chủ sở hữu, cộng đồng, khách hàng, đối tác, người lao động. Theo Lee (2011), lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) phát triển lên từ lý thuyết thể chế.
Nội dung về các bên liên quan đầu tiên xuất hiện trong lý luận quản lý từ thập niên 60. Tuy nhiên, đến thập niên 80, lý thuyết này mới chính thức được các học giả sử dụng. Theo lý thuyết này, các bên liên quan là bất kỳ nhóm hay cá nhân ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, bởi các hoạt động của công ty như cổ đông, chủ sở hữu của công ty, cơ quan chính phủ, nhóm chính trị, các hiệp hội thương mại, cộng đồng, nhân viên, khách hàng. Theo Deegan và Samkin (2009), doanh nghiệp nên hài hòa lợi ích của các bên, nếu các bên xung đột lợi ích, doanh nghiệp có nhiệm vụ cân bằng lợi ích tối ưu.
Lý thuyết này tiêu biểu qua các nghiên cứu sau: như Ullmann (1985), Roberts (1992), Clarkson (1995), Van der Laan Smith et al. (2005), McDonald & Rundle-Thiele (2008), Mandhachitara & Poolthong (2011), Lee et al. (2012a), Zhao et al. (2012), Pérez et al.
(2013), Pérez & del Bosque (2014, 2015), Khan et al. (2015), Fatma & Rahman (2016)… Ý tưởng cốt lõi của lý thuyết các bên liên quan nhấn mạnh đến việc cân bằng các lợi ích của các nhóm liên quan khác nhau và quản lý các tác động phát sinh trong mối quan hệ giữa các bên liên quan và doanh nghiệp. Kể từ khi xuất bản sách của Freeman (1984), một số nghiên cứu đã sử dụng khung các bên liên quan để giải thích các quyết định và thực tiễn của công ty liên quan đến các lợi ích của các bên liên quan (Clarkson, 1995). Lý thuyết các bên liên quan giúp tái khái niệm công ty trong phạm vi rộng hơn của các mối quan hệ xã hội, nhưng nó không cung cấp các cơ chế giải thích về cách các bên liên quan tác động đến công ty như thế nào.
Mặc dù công ty thường phải đối diện với nhiều mối liên hệ phức tạp với các bên liên quan (Lee, 2011). Về mặt lý thuyết, tất cả các bên liên quan đều quan trọng, nhưng thực tế, công ty chỉ có thể chú ý đến một số lượng hạn chế các bên liên quan (Jamali, 2008). Do đó, một số bên liên quan (ví dụ như cổ đông) đã đánh giá rất cao (Davis & Thompson, 1994), trong khi những người khác (ví dụ như 11 luan an những người ủng hộ người tiêu dùng) có ảnh hưởng tương đối ít đến hành vi của công ty (Vogel, 2007). Điều gì giải thích sự không nhất quán và không đồng nhất trong quan hệ các bên liên quan? Làm thế nào để các nhà quản lý đưa ra quyết định liên quan đến nhu cầu của các bên liên quan khác nhau? Để trả lời những câu hỏi quan trọng này, các nhà nghiên cứu thường mượn các khái niệm từ các lý thuyết khác để giải thích các bên liên quan.
Cách tiếp cận phổ biến nhất để giải thích các bên liên quan dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết các bên liên quan và lý thuyết dựa vào nguồn lực (Treviño & Weaver, 1999). Ý tưởng chính là hành vi xã hội của công ty bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ của công ty với các bên liên quan khác nhau, và hướng tới mức độ ảnh hưởng giữa công ty và các bên liên quan (Clarkson, 1995). Henriques và Sadorsky (1999) đã áp dụng khung lý thuyết cho hành vi môi trường của công ty và nhận thấy rằng một tổ chức nhận thức về tầm quan trọng của các bên liên quan trong việc xác định mức độ cam kết môi trường của mình. Bằng cách sử dụng dữ liệu công ty, Kassinis & Vafeas (2006) đã kiểm tra mối quan hệ phụ thuộc giữa các tập đoàn và các nhóm bên liên quan khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động môi trường của công ty.
Theo Pérez và del Bosque (2015), cách tiếp cận hiện đại để giải thích TNXH trong ngành ngân hàng là dựa vào lý thuyết các bên liên quan. Các khía cạnh của TNXH hướng vào các bên liên quan thật sự quan trọng đối với từng ngân hàng. Thay vì đề cập các đối tượng xã hội chung chung, thì các bên liên quan sẽ là khái niệm phù hợp hơn khi nói đến mối quan hệ giữa ngân hàng và bên ngoài (Clarkson, 1995). Các hoạt động liên quan đến TNXH nên đem lại lợi ích cao nhất cho các bên liên quan.
Wang et al. (2016) xác nhận lý thuyết các bên liên quan là điểm tựa để đưa ra các kết luận về mối quan hệ giữa TNXH và HQTC của doanh nghiệp. Ruiz et al. (2014) nhấn mạnh ngân hàng nên quan tâm đến các bên liên quan thay vì cổ đông vì điều này khắc phục được hạn chế của việc tập trung tài chính vào lợi ích ngắn hạn.
Hơn thế, các tổ chức như ngân hàng sẽ thể hiện thành công TNXH khi quan tâm đến các bên liên quan trong chiến lược quản lý. Khi thực hiện TNXH ở ngân hàng chính là cách để trả lời các cam kết đối với lợi ích kinh tế của cổ đông, nhân viên, khách hàng, chính phủ, nhà đầu tư và cộng đồng (Pérez & del Bosque, 2015). Tóm tắt định nghĩa các bên liên quan được trình bày trong Bảng 2.1 như sau: 12 luan an Bảng 2.1 Các định nghĩa về các bên liên quan Tác giả Định nghĩa Freeman (1984) Có ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc hoàn thành các mục tiêu của tổ chức Evan & Được hưởng lợi hoặc bị làm tổn hại lợi ích khi các hoạt Freeman (1988) động của công ty tôn trọng hay vi phạm quyền lợi của họ Wicks et al. Có tương tác với ý nghĩa và các định nghĩa từ công ty (1994) Clarkson (1995) Chịu rủi ro từ việc đầu tư nhân lực, vật lực, tài lực vào một công ty Donaldson & Là một cá nhân hay tập thể có quyền lợi hợp pháp từ các Preston (1995) khía cạnh hoạt động của công ty Mitchell et al.
Sở hữu các thuộc tính như quyền lực, tính hợp pháp, khẩn (1997) cấp Freeman & Tái phân phối các lợi ích…tái phân phối quyền ra các Phillips (2002) quyết định quan trọng đối với tất cả các bên liên quan. Nguồn: Tổng hợp từ các bài nghiên cứu có liên quan TNXH thực sự không phải là quyết định chiến lược riêng, mà là kết quả dựa trên sự hợp nhất của các tương tác về thể chế, các bên liên quan và các tổ chức. Theo nghĩa đó, khung lý thuyết được đề xuất có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với các mối quan hệ xã hội. TNXH được coi là một sáng kiến tự nguyện của công ty đối với xã hội.
Nghiên cứu cho thấy rằng TNXH không chỉ là trách nhiệm đối với cộng đồng, mà còn là trách nhiệm đối với xã hội. Các chủ thể xã hội và các bên liên quan khác nhau có trách nhiệm và chịu trách nhiệm cho hành động của mình (McInerney, 2007).