Chương 1: Cơ sở lý luận về quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Chương 2: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự một số nước. Chương 3: Nhu cầu, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam với việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN 1.
Lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân 1. Khái niệm trách nhiệm hình sự Trong khoa học luật hình sự, các nhà hình sự học vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm TNHS.Trong khoa học luật hình sự của Liên xô cũ và Liên bang Nga hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về TNHS, trong đó nổi bật là các quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất: TNHS là nghĩa vụ của người phạm tội: phải chịu hình phạt và được thể hiện trong việc tước bỏ có tính chất cá nhân hoặc tính chất tài sản đối với người đó vì tội phạm đã được thực hiện; phải chịu biện pháp tác động về mặt pháp lý hình sự bao gồm những việc tước bỏ, đau đớn mà pháp luật quy định đối với người đó; phải chịu các hạn chế về quyền lợi theo trình tự đã được pháp luật quy định, đồng thời bị kết án và chịu hình phạt xuất phát từ trình tự tố tụng; phải chịu các biện pháp cưỡng chế Nhà nước [13-tr. Theo quan điểm này nhấn mạnh về hậu quả của TNHS, theo đó người phạm tội phải chịu các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với hành vi phạm tội của người đó. Quan điểm thứ hai: TNHS là sự thực hiện có tính chất cưỡng chế những sự tước bỏ nhất định được các cơ quan đấu tranh chống tội phạm nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm; kết án nhân danh Nhà nước đối với người có lỗi về tội phạm do người đó thực hiện;chịu đựng mang tính chất bắt buộc của người có tội những hậu quả tiêu cực của tội phạm dưới hình thức kết án (sự khiển trách của Nhà nước và sự cưỡng chế phải chịu những hậu quả đó bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với kẻ phạm tội; tác động có tính chất cưỡng chế Nhà nước do quy 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm pháp luật hình sự quy định và được áp dụng đối với người phạm tội bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; phản ứng của Nhà nước đối với việc thực hiện tội phạm gắn liền với việc tước bỏ mang tính cưỡng chế đối với người có tội các quyền nhất định hoặc sự hạn chế các quyền ấy và được thực hiện trong các phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự [13-tr.
Quan điểm thứ ba: TNHS là hậu quả pháp lý - xã hội phức tạp của việc phạm tội mà nó bao gồm bốn yếu tố: thứ nhất, nó dựa trên các quy phạm pháp luật và bắt nguồn từ sự kiện phạm tội nghĩa vụ của chủ thể phải trả lời trước Nhà nước mà đại diện là các cơ quan có thẩm quyền về hành vi của mình;thứ hai, nó thể hiện trong bản án của Tòa án sự đánh giá có tính chất phủ định (kết án, coi là tội phạm) và sự cảnh cáo (thể hiện sự quở trách) người đã thực hiện hành vi; thứ ba, quyết định đối với người có tội hình phạt hoặc biện pháp có tính chất hình sự khác; thứ tư, án tích như là hậu quả pháp lý của việc kết án cùng với sự chấp hành hình phạt đã được quyết định [13-tr28,29]. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cho đến nay có nhữngquan điểm chủ yếu về TNHS sau đây: Quan điểm thứ nhất: TNHS là “hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước” [13-tr29]. Quan điểm thứ hai: “TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện” [13-tr30]. Quan điểm thứ ba: TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động tuy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích [13-tr30].
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về TNHS như quan điểm của PGS.TSKH Lê Cảm khẳng định: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định” [12]. Theo quan điểm này thì TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, nếu không có sự việc phạm tội thì không đặt ra TNHS. TNHS được thực hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định đối với người phạm tội; PGS.TS Lê Thị Sơn cho rằng: “TNHS là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả bất lợi về hành vi phạm tội của mình. TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích” [77].
Theo quan điểm này thì TNHS là trách nhiệm mà người thực hiện hành vi phạm tôi phải chịu những hậu quả bất lợi bị truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế và chịu mang án tích. Theo quan điểm có tính truyền thống, phổ biến, có tính chung nhất trong khoa học luật hình sự Việt Nam thì khái niệm TNHS được hiểu là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và hậu quả pháp lý ấy được thể hiện trong việc Tòa án nhân danh Nhà nước kết án người đã bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đó, còn người bị kết án phải chịu sự tác động về mặt pháp lý hình sự theo một trình tự tố tụng riêng. Theo quan điểm này thì TNHS có các đặc điểm sau: Thứ nhất, TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, TNHS chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội, cụ thể: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trong thực tế khách quan nếu như không có việc thực hiện tội phạm – hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, thì cùng không xuất hiện vấn đề TNHS; - TNHS chính là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác vì các dạng trách nhiệm pháp lý khác không đưa đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng đối với chủ thể của hành vi vi phạm đến mức như TNHS - hạn chế hoặc tước bỏ quyền và tự do hay thậm chí tước bỏ cả tính mạng của chủ thể (nếu bị áp dụng hình phạt tử hình); Thứ hai, TNHS luôn luôn được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định - một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội, cụ thể: - Nhà nước (mà đại diện là cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền) có quyền xử lý người phạm tội nhưng, nhưng phải có nghĩa vụ chỉ được xử lý dựa trên các căn cứ trong các giới hạn do pháp luật quy định; - Người phạm tội thì có nghĩa vụ phải chịu tước bỏ hoặc bị hạn chế quyền, tự do nhất định nhưng đồng thời cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ từ phía Nhà nước tất cả các quyền và lợi ích của con người và của công dân mà pháp luật đã quy định. Thứ ba, TNHS được xác định bằng một trình tự đặc biệt bởi cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền mà trình tự đó phải do pháp luật tố tụng hình sự quy định, cụ thể: - Không phải bất kỳ cơ quan Nhà nước nào cũng được phép quy TNHS cho một công dân, mà chỉ có cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền gồm cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án mới có thẩm quyền quy định TNHS cho một công dân.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thẩm quyền quy định TNHS phải theo một trình tự đặc biệt do pháp luật TTHS quy định. Tùy từng giai đoạn cụ thể của quá trình TTHS mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo luật định xác định TNHS của công dân bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm. Thứ tư, TNHS chỉ được thể hiện trong bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định. Các quyết định của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quá trình TTHS chỉ là các văn bản áp dụng các biện pháp cưỡng chế về mặt TNHS nhằm bảo đảm cho việc thực hiện TNHS sau này mà chưa phải là các văn bản mà trong đó TNHS được thực hiện.
Một người chỉ bị coi là tội phạm khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, TNHS được thực hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Bộ luật hình sự quy định. Thứ năm, TNHS chỉ mang tính chất cá nhân, hiện nay, pháp luật hình sự nước ta mới chỉ quy định TNHS đối với cá nhân mà chưa quy định TNHS đối với pháp nhân. Tuy nhiên, hiện nay cũng có quan điểm cho rằng các đặc điểm của TNHS gồm các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả này chỉ phát sinh khi có người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị PLHS cấm hoặc không thực hiện những nghĩa vụ mà PLHS yêu cầu phải thực hiện.
TNHS chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội. Trong thực tế khách quan, nếu như không có việc thực hiện tội phạm thì cũng sẽ không xuất hiện vấn đề TNHS.