Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG HỢP ĐỒNG 1. KHÁI NIEM TRÁCH NHIỆM PHAP LÝ, TRÁCH NHIEM DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG HỢP ĐỒNG 1. Trách nhiệm pháp lý "Trách nhiệm là khái niệm xuất hiện phổ biến trong đời sống của người dân, trong mối quan hệ giữa con người với con người. Ví dụ cha mẹ có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, ngược lại con cái có bổn phận kính trọng, yêu thương ông bà, cha mẹ; mọi công dân có trách nhiệm tôn trọng pháp luật) Theo Từ điển Tiếng Việt, trách nhiệm được hiểu theo hai nghĩa “7.
Phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả, 2. Sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo dam đúng dan, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả ”[32. Từ đó có thể thấy trách nhiệm được hiểu theo hai nghĩa, tích cực và tiêu cực. Theo nghĩa tích cực, trách nhiệm là bổn phận, là điều phải làm.
Theo nghĩa tiêu cực; trách nhiệm là hậu quả bất lợi phải gánh chịu về mình. Việc thực hiện hoặc không thực hiện công việc đó không nhất thiết cần phải có sự bảo đảm của Nhà nước bằng pháp luật. Nhưng khi các loại trách nhiệm đó được Nhà nước điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật thì trách nhiệm đó trở thành bắt buộc, hay còn gọi là trách nhiệm pháp lý. Trên thực tế, vai trò tác động của pháp luật ngày càng cao, nó không còn đóng khung ở chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội mà còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo hướng khách quan.
Do vậy, các quan hệ trách nhiệm không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện các chế tài xử lý các hành vi vi phạm, mà còn có tác động đến việc hình thành ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên trong xã hội thông qua những quy định trách nhiệm phải thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Dưới góc độ pháp luật, trách nhiệm được hiểu là trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý là một chế định rất quan trọng trong mọi hệ thống luật. Từ điển bách khoa toàn thư của Pháp (Le Petit Larousse) giải thích khái niệm “trách nhiệm” hiểu dưới góc độ pháp lý là bổn phận sửa chữa lỗi, thực hiện một nghĩa vụ hay một điều ràng buộc [35, tr.
Trách nhiệm pháp lý chỉ xuất hiện khi có vi phạm pháp luật, hay nói cách khác trách nhiệm pháp lý là “hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật”. Trách nhiệm pháp lý là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Nó thể hiện thái độ phê phán của Nhà nước đối với hành vi vi phạm và được bảo vệ bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước. Trong lý luận chung về pháp luật, chúng ta đã quen với việc phân định trách nhiệm pháp lý theo phương pháp truyền thống, theo đó có các loại trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm hình sự, TNDS, trách nhiệm ky luật và trách nhiệm hành chính È Theo định nghĩa trong giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội: Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với các chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật [12, tr.+ Tuy nhiên, định nghĩa này chưa nêu bật những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý và ý nghĩa của trách nhiệm pháp lý.
Dựa trên những khái niệm và định nghĩa nêu trên, có thể thấy trách nhiệm pháp lý có các đặc điểm cơ bản như sau: Dấu hiệu điển hình của trách nhiệm pháp lý là chế tài. Việc áp dụng chế tài thể hiện thái độ của Nhà nước tác động đến các hành vi vi phạm pháp luật vì được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của Nhà nước. Hệ thống các biện pháp tác động lên chủ thể vi phạm tương đối đa dạng, phụ thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và loại trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý có tính chất trừng trị và tính khôi phục tương ứng với phần hậu quả mà người có trách nhiệm phải gánh chịu do không thực hiện nghĩa vụ của mình.
Dấu hiệu thứ hai của trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm pháp lý nhất thiết phải được quy định bằng các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền. Chỉ Nhà nước mới có quyền xác định hành vi nào là vi pham pháp luật và những chế tài tương ứng. Tuy nhiên, trách nhiệm pháp lý chi được phép áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật. Không truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi trái pháp luật được thực hiện trong các trường hợp: ¡) chủ thể không có năng lực trách nhiệm pháp lý, ii) do sự kiện bất kha kháng, iii) do phòng vệ chính đáng, iv) được thực hiện phù hợp với tình thế cấp thiết.
Dựa trên những đặc điểm phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm pháp lý như sau: ứrách nhiệm pháp lý là hậu qua bất loi mà chủ thể vi phạm pháp luật (vì có hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác) phải gánh chịu với tính chất là biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị vi phạm. Trách nhiệm dân sự L TNDS là một trong các loại trách nhiệm pháp lý. Nếu dựa trên tiêu chí chủ thể được phép áp dụng, thì TNDS là loại trách nhiệm pháp lý do Toà án hoặc các chủ thể khác được phép áp dụng đối với các chủ thể vì phạm pháp luật dân sự. TNDS cũng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Theo nghĩa rộng, TNDS được hiểu là bổn phận xác định của các chủ thể pháp luật dân sự trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng, vì lợi ích của Nhà nước, xã hội và chủ thể khác. Theo nghĩa hẹp, TNDS là hậu quả pháp ly bất lợi, áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật dân sự để buộc chủ thể này phải khắc phục tổn thất đã gây ra. Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, thi “7NDS là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản duoc áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh than cho người bị thiệt hại (9). Nhu vậy, hiểu theo nghĩa trên, thì TNDS được gắn với việc có vi phạm pháp luật, tức là TNDS được đặt ra nếu có sự vi phạm pháp luật dân sự (TNDS được hiểu theo nghĩa hẹp).
Trong Tạp chí dân chủ và pháp luật của Bộ Tư pháp, số chuyên đề về BLDS Việt Nam năm 2005, tại phần thuật ngữ pháp luật dân sự lại đưa ra khái niệm khác về TNDS như sau: “TNDS (theo nghĩa rộng) là các biện pháp có tính cưỡng chế được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi phạm. Dựa trên những khái niệm nêu trên, ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý, TNDS còn mang những đặc điểm riêng như sau: - Căn cứ phát sinh TNDS là hành vi vi phạm pháp luật dân sự hoặc vi phạm hợp đồng, đó là việc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ dân sự. | - TNDS bao giờ cũng liên quan trực tiếp đến tài sản. Lợi ích mà các bên hướng tới trong quan hệ nghĩa vụ dân sự bao giờ cũng mang tính chất tài sản.
Do đó, TNDS của người vi phạm bao giờ cũng là sự bù đắp cho bên bị vi phạm những lợi ích vật chất nhất định. - Chủ thể chịu TNDS có thể là người vi phạm nhưng cũng có thể là 10 người khác, như là người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên, pháp nhân, cơ quan, tổ chức. - Hậu quả bất lợi mà người vi phạm phải chịu là việc bắt buộc phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoặc bồi thường thiệt hại nhằm bảo vệ quyền và khắc phục những hậu quả vật chất cho bên bị vi phạm. Căn cứ vào nghĩa vụ được tạo lập mà các bên vi phạm trách nhiệm được phân chia thành TNDS do vi phạm các nghĩa vụ được pháp luật quy định chung (trách nhiệm ngoài hợp đồng) và TNDS do vi phạm nghĩa vụ từ những cam kết, thoả thuận (TNDS trong hợp đồng).
Qua sự phân biệt hai loại hình TNDS trên, xuất hiện một khái niệm khác của khái niệm “TNDS”, đó là khái niệm “trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ dân sự”. Về nguyên tắc, mọi nghĩa vụ dân sự đều phải được các chủ thể mang nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ. Do đó, nếu một bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nội dung của nghĩa vụ thì phải chịu TNDS đối với người có quyền. TNDS do vi phạm nghĩa vụ dân sự là điều bắt buộc đối với bên vi phạm nghĩa vu, chỉ hình thành giữa các bên chủ thể trong một quan hệ nghĩa vụ đang tồn tại và đương nhiên, nó chỉ phát sinh khi có sự vi phạm nghĩa vụ.
Chính vi vậy, nghĩa vụ dân sự là cái có trước, còn TNDS do vi phạm nghĩa vụ là cái có sau. Mặt khác, nếu các bên thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn đã được xác định và các bên tự giác thực hiện nghĩa vụ đó thì quan hệ pháp luật phát sinh là quan hệ nghĩa vụ, còn trong trường hợp nghĩa vụ bị vi phạm, quan hệ phát sinh sau đó là quan hệ trách nhiệm. Như vậy, có thể hiểu TNDS do vi phạm hợp đồng hoặc do không thực hiện một nghĩa vụ khác đã có giữa các bên chủ thể được gọi là “TNDS do vi phạm nghĩa vu” [37]. “Trách nhiệm cua bên vi phạm nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ dân sự phải tiếp tục thực hiện đúng hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của họ gây ra.
TNDS do vi phạm nghĩa vụ bao gồm trách nhiệm do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đây đủ nghĩa vụ, TNBTTH ” [9].