Chương 1 MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIEM BOL THƯỜNG THIET HAI DO VI PHAM NGHĨA VỤ HỢP DONG 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là việc một bên chủ thé thực hiện hành vi không tuân theo hoặc làm trái những việc mà chủ thẻ thực hiện hành vi đó phải thực hiện hoặc thực hiện các hành vi mà chi thể đó không được làm. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ví phạm nghĩa vụ hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do Toà án hoặc bên bị vi phạm áp dụng với bên có hảnh vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không day đủ các nghĩa vụ phát sinh từ hop đồng phải bù đắp những tổn thất về vất chất hoặc tinh thần cho bên bị thiệt hại!. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng được hiểu là những hậu quả pháp lý bất lợi mà một trong số các bên chủ thể tham gia hợp đồng phải gánh chịu đo hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết, ràng buộc với chủ thể còn lại của hợp đồng (vi phạm nghĩa vụ hợp đồng).
Pháp luật các quốc gia trên thể giới luôn chú ý xây dựng các quy phạm điều chỉnh van dé trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nhằm buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quà, ngăn chặn tâm lý không thiện trí thực hiện hợp đồng và đồng thời bù đắp tổn thất cho chủ thể bị vi phạm hợp đồng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong số các loại trách nhiệm dân su được đặt ra với mục dích bù đắp tổn thất cho người bị thiệt hại. Có 02 loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng va trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Trong phạm vi của đề tải, TNBTTH được nghiên cứu dưới góc độ trách nhiệm BTTH do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng (hay con gọi là trách nhiệm BTTH theo/ trong hợp đồng).
Dưới góc nhìn của khoa học pháp lý: “Nghia vu bôi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự, trong đá người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tin, tài sản, các quyền và lợi ich hợp pháp của người khác gây ra ! Phạm Diệu Hương (2018), Căn cứ loại trừ trách nhiệm đân sie do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đẳng theo pháp luật dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lugt Hà Nội, tr L1. 6 thiệt hại phải bôi thường những thiệt hại mà mình gây ra ". Ở cách định nghĩa trên. trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại nghĩa vụ dân sự phát sinh khi có hành vi trái pháp luật, xâm phạm quyền của người khác gây thiệt hại.
Trách nhiệm này phát sinh không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên hay còn được biếu là TNBTTH ngoài hợp đồng: “7NBTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự mà trong đó một hoặc nhiều chi: thể phải bù đắp những tổn thất về vật chất và tỉnh thân mà người bị thiệt hại phải gảnh chịu khi các đối tượng được pháp luật báo vệ bị xâm phamTM, Dù nhìn nhận dưới góc độ nào thì TNBTTH cũng là một loại trách nhiệm đân sự. Day là loại trách nhiệm tài sản nhằm khôi phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại. Hậu quá của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang. đến những bắt lợi về tai sản cho.
Trong khi đó trách nhiệm BTTH do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là “logi trách nhiệm dân sự mà chủ thé có năng lực bằi thường phải bà đắp ton thất cho người bị thiệt hại khi chit thé nay thực hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đằng gay ra thiệt hai”. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại TNBTTH do vi phạm nghĩa vụ hợp. đồng là một loại trách nhiệm dân sự nên có một số đặc điểm chung với trách nhiệm dan sự như sau: Một là, TNBTTH do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể có năng lực bồi thường thiệt hại phải gánh chịu. VỀ nguyên tắc, các bên có thể thỏa thuận về phương thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật, phải thực hiện một công việc,.
Tuy nhiên, việc bồi thường dù có dược thực hiện bằng phương thức nào đi chăng nữa thì cũng hướng tới việc bù đắp những thiệt hại mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Tức là người có trách nhiệm bồi thường phải bù ? Trường Đại học Luật Ha Nội (2019), Giáo trình Luật Dan sự Việt Nam tập 2, NXB Công an nhân din, tr 302. * Nguyễn Văn Hợi (2017), Trách nhiệm bôi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp tuds dn sự Việt Nam, Luận an tiễn sĩ Lugt học. 7 đắp những thiệt hại được tính toán bằng một lượng tai sản nhất định (mat đi một lợi ích nhất định).
Hai là, TNBTTH do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm. TNBTTH phát sinh theo nhiều nguyên nhân khác nhau có thể là TNBTTH phat sinh do hành vi con người hoặc TNBTTH phát sinh do tài sản gây ra. TNBTTH do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng gây ra là loại trách nhiệm pháp lý do hanh vi của con người gây ra. Ba là,TNBTTH do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mang tính cưỡng chế.
Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của cơ quan nhà nước, người có thấm quyền đối với những cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế về mặt tài sản hoặc tự do thân thể của cá nhân. Nói TNBTTH mang tính cưỡng chế nghĩa là đây là loại nghĩa vụ bat buộc thực hiện với người gây thiệt hại, việc thực hiện nghĩa vụ đó được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước. Ngoài ra, TNBTTH do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là trách nhiệm BTTH trong hợp đồng do đó có những đặc điểm riêng noi bật sau: Một là, nguyên nhân gáy ra thiệt hai là hành vi trải pháp luật của chú thể tham gia hop đông. Khác với hành vi xâm phạm trái pháp luật gây thiệt hại ngoài hợp đồng, hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là hành vi làm trái cam kết, thoả thuận của các bên tham gia hợp đồng.
Hai là, vẻ chú thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chủ thể chịu trách nhiệm BTTH có thẻ là người không trực tiếp thực hiện hành vi gây thiệt hại. Trong trách nhiệm BTTH đo vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng chú thể phải bồi thường thiệt hại được định danh theo nguyên tắc “đi gây thiệt hại thì người đó trực tiếp bồi thường”. Ba là, về mức bi thường thiệt hại: Mức bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng khác với trường hợp BTTH ngoài hợp đồng. Trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do các bên không thoả thuận với nhau do đó mức bồi thường thiệt hại thường được xác định theo nguyên tắc "thiệt hại bao nhiều bồi thường bấy nhiêu".
Trong khi đó, trách nhiệm BTTH do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là trách nhiệm BTTH trong hợp đồng sẽ phát sinh theo thoá thuận các bên, do đó các bên được tự đo thoả thuận điều khoản về mức bồi thường thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại 26 thể được ấn định trước. Theo thoả thuận của các bên chủ thể mức thiệt hại đưọc BTTH có thể lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng với thiệt hại thực tế đã Xây ra. Phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng. trong luật dân sự.
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dan sự trong đó một bên phải bồi thường những thiệt hại đã gây ra do hành vi xâm phạm đến tinh mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tin, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc do tài sản mà mình chiếm hữu, quản lí gây ra thiệt hại cho người khác và bền được nhận bồi thường theo mức đã thỏa thuận hoặc theo quyết định của Toa án”.* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có điểm tương đồng như đều là hình thức trách nhiệm dân sự có tác dụng nhằm buộc bên mang hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về mặt vật chất và tỉnh thần cho bên bị ảnh hưởng thiệt hại. Bồi thường thiệt hại trong hay ngoài hợp đồng đều phát sinh khi có thiệt hại xảy ra; có mối quan hệ nhân quá giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả xảy ra; các bên có thẻ thỏa thuận với nhau giữa hình thức và mức bồi thường khi xảy ra thiệt hại. Tuy nhiên bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có những điểm khác nhau cơ bản như sau: Thứ nhất, về căn cứ phát sinh: 4 Trường Đại học Lug Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Dâm sự Việt Nam tip 2, NXB “Tư pháp, tr 477. s Trach nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng được xây dựng bor các quy phạm định chế trong hợp đồng, chỉ tồn tại khi hợp đồng tổn tại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng phát sinh khi xuất hiện sự vi phạm về một hay nhiều nghĩa vụ được quy định cụ thé trong hợp đồng. Vi dụ như: giao hàng hóa không đúng số lượng, chủng loại, chất lượng, tiễn độ như da ký kết trong hợp đồng. “Trong khi đó, bồi thưởng thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi tồn tại một hành vi vi phạm pháp luật dần sự. Cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác và hành ví này không liên quan đến bất cứ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.