Trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình luận văn thạc sỹ luật

Phân tích sâu trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong tố tụng hình sự. Đánh giá pháp luật, đề xuất hoàn thiện cơ chế bồi thường.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong tố tụng

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự là một chế định pháp lý quan trọng, thể hiện cam kết của một nhà nước pháp quyền trong việc bảo vệ quyền con người. Về bản chất, đây là trách nhiệm pháp lý dân sự của Nhà nước, phát sinh khi người thi hành công vụ (NTHCV) thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức. Luận văn của tác giả Lê Thị Hồng Hiếu (2020) định nghĩa đây là “một loại trách nhiệm pháp lý trong đó Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động TTHS”. Đặc điểm nổi bật của loại trách nhiệm này là tính “thay thế”, tức là Nhà nước đứng ra bồi thường thay cho NTHCV, sau đó NTHCV có trách nhiệm hoàn trả lại một phần hoặc toàn bộ khoản tiền cho ngân sách. Chế định này không chỉ khắc phục hậu quả vật chất và tinh thần cho người bị oan sai mà còn mang ý nghĩa sâu sắc trong việc củng cố lòng tin của nhân dân vào công lý, nâng cao ý thức của đội ngũ cán bộ trong hoạt động tư pháp và đảm bảo các nguyên tắc bồi thường của nhà nước được thực thi một cách công bằng, minh bạch, phù hợp với tinh thần Hiến pháp 2013.

1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của bồi thường trong tố tụng

Về mặt pháp lý, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự được hiểu là nghĩa vụ của Nhà nước phải gánh chịu hậu quả bất lợi, cụ thể là bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị xâm hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Đây là một dạng trách nhiệm dân sự đặc thù. Mặc dù hành vi gây thiệt hại trực tiếp là của Điều tra viên, Kiểm sát viên hay Thẩm phán, nhưng chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng lại là Nhà nước. Lý do là vì các NTHCV này đang nhân danh quyền lực nhà nước để thực thi nhiệm vụ. Do đó, Nhà nước phải chịu trách nhiệm cho các sai sót phát sinh. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 (Luật TNBTCNN 2017) đã quy định rõ cơ chế này, phân biệt rõ giữa chủ thể gây thiệt hại (NTHCV) và chủ thể có trách nhiệm bồi thường (Nhà nước).

1.2. Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền con người và nguyên tắc pháp quyền

Việc quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo những nguyên tắc của nhà nước pháp quyền. Nó phá vỡ quan niệm lỗi thời “Vua không thể làm điều sai”, khẳng định rằng Nhà nước cũng là một thực thể pháp lý, bình đẳng trước pháp luật và phải chịu trách nhiệm khi gây thiệt hại. Quan trọng hơn, đây là cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp. Theo Điều 31 Hiến pháp 2013, “người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự”. Chế định này buộc các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân phải cẩn trọng hơn trong mọi hoạt động, từ đó hạn chế các vụ án oan sai.

II. Phân tích căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Để xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, không phải mọi thiệt hại phát sinh trong quá trình tố tụng đều được xem xét. Pháp luật yêu cầu phải hội tụ đủ các điều kiện chặt chẽ, được gọi là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường. Theo Điều 7 Luật TNBTCNN 2017, Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm khi có đủ ba yếu tố: (1) có văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi được bồi thường; (2) có thiệt hại thực tế về vật chất hoặc tinh thần của người bị thiệt hại; và (3) có mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế. Thiếu một trong ba yếu tố này, yêu cầu bồi thường sẽ không được chấp nhận. Việc chứng minh các căn cứ này là trách nhiệm của người yêu cầu bồi thường, thông qua việc thu thập và cung cấp các bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã có hiệu lực pháp luật, cùng với các chứng từ, tài liệu chứng minh thiệt hại. Đây là nền tảng pháp lý cốt lõi để khởi động thủ tục giải quyết bồi thường.

2.1. Điều kiện về hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ

Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra là yếu tố tiên quyết. Đây là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định. Trong tố tụng hình sự, hành vi này phải được xác định trong một văn bản pháp lý có hiệu lực, chẳng hạn như: bản án của Tòa án tuyên bị cáo vô tội, quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm. Ví dụ, việc một Điều tra viên ép cung, làm sai lệch hồ sơ vụ án dẫn đến khởi tố oan một người vô tội là hành vi trái pháp luật điển hình. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường chính là bằng chứng pháp lý không thể thiếu để chứng minh sự tồn tại của hành vi sai trái này.

2.2. Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi công vụ sai trái

Mối quan hệ nhân quả yêu cầu thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật, và ngược lại, hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Luận văn trích dẫn vụ án của chị Phạm Thị L., Tòa án đã từ chối bồi thường chi phí chữa bệnh “rong kinh do u xơ tử cung” vì không có bằng chứng chứng minh căn bệnh này là do việc bị truy tố oan gây ra. Tòa án cho rằng đây là bệnh lý tự nhiên, không có mối quan hệ nhân quả với hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng. Yếu tố này giúp ngăn chặn việc lạm dụng chính sách bồi thường oan sai trong tố tụng hình sự, đảm bảo rằng ngân sách nhà nước chỉ chi trả cho những tổn thất thực sự xuất phát từ sai phạm trong hoạt động tư pháp.

III. Hướng dẫn xác định chủ thể trong quan hệ bồi thường Nhà nước

Việc xác định đúng các chủ thể liên quan là bước quan trọng trong thủ tục giải quyết bồi thường. Một quan hệ bồi thường nhà nước bao gồm nhiều chủ thể với vai trò và quyền lợi khác nhau. Thứ nhất là chủ thể gây thiệt hại, tức là các người tiến hành tố tụng như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Thứ hai là chủ thể có trách nhiệm bồi thường, luôn là Nhà nước. Thứ ba là cơ quan giải quyết bồi thường, thường là cơ quan trực tiếp quản lý NTHCV gây thiệt hại (ví dụ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh A bồi thường cho sai phạm của Kiểm sát viên thuộc VKS tỉnh A). Cuối cùng là chủ thể được bồi thường, bao gồm người bị thiệt hại trực tiếp, người thừa kế, hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Việc phân định rõ ràng các chủ thể này giúp người yêu cầu biết cần gửi đơn đến đâu và ai có thẩm quyền giải quyết, đảm bảo quy trình diễn ra đúng pháp luật và hiệu quả. Luật TNBTCNN 2017 đã có những quy định cụ thể để xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong các trường hợp phức tạp, đặc biệt là khi sai phạm xảy ra ở nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau.

3.1. Nhận diện người thi hành công vụ và cơ quan tiến hành tố tụng

Chủ thể gây thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra được xác định là các cá nhân thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng. Cụ thể, theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, họ bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân, Thẩm phán, Hội thẩm. Hành vi trái pháp luật của họ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là nguồn gốc phát sinh trách nhiệm bồi thường. Ví dụ, trong vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn, các cá nhân như Điều tra viên Trần Nhật Luật, Kiểm sát viên Đặng Thế Vinh và Thẩm phán Phạm Tuấn Chiêm đã bị xác định là những người có hành vi làm sai lệch hồ sơ, thiếu trách nhiệm, trực tiếp gây ra án oan sai.

3.2. Quyền lợi của người bị thiệt hại và các thân nhân liên quan

Chủ thể được bồi thường không chỉ là người bị kết án oan. Luật TNBTCNN 2017 mở rộng phạm vi bao gồm cả thân nhân của họ. Người bị thiệt hại trực tiếp được bồi thường cả về vật chất lẫn tinh thần. Trong trường hợp người bị thiệt hại chết, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần. Ngoài ra, các chi phí thực tế như chi phí đi lại thăm nuôi, chi phí chăm sóc người bị suy giảm sức khỏe cũng là các thiệt hại được bồi thường. Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ ra một bất cập: luật chưa quy định rõ về việc bồi thường tổn thất tinh thần cho thân nhân trong trường hợp người bị oan còn sống hoặc chết không do hành vi của NTHCV, dẫn đến việc áp dụng không thống nhất trong thực tiễn.

IV. Phương pháp xác định các thiệt hại được bồi thường chi tiết

Xác định chính xác các loại thiệt hại được bồi thường là khâu phức tạp và dễ gây tranh cãi nhất trong thủ tục giải quyết bồi thường. Luật TNBTCNN 2017 đã hệ thống hóa các loại thiệt hại thành hai nhóm chính: thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại vật chất bao gồm các tổn thất có thể tính toán thành tiền, như tài sản bị mất/hư hỏng, thu nhập thực tế bị mất, chi phí chữa bệnh, chi phí mai táng, tiền cấp dưỡng. Thiệt hại tinh thần là những tổn thất vô hình, khó đong đếm, liên quan đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và sự đau khổ mà người bị oan và gia đình phải gánh chịu. Mức bồi thường cho tổn thất tinh thần thường được tính dựa trên mức lương cơ sở tại thời điểm giải quyết. Việc lượng hóa các thiệt hại này đòi hỏi cơ quan giải quyết bồi thường phải thu thập đầy đủ chứng cứ, áp dụng đúng công thức do luật định và có thể cần đến sự tham gia của các cơ quan định giá chuyên nghiệp để đảm bảo tính khách quan, công bằng.

4.1. Cách tính toán thiệt hại về vật chất do tài sản và thu nhập

Thiệt hại về vật chất được quy định chi tiết từ Điều 23 đến Điều 26 của Luật TNBTCNN 2017. Đối với tài sản bị hư hỏng, thiệt hại là chi phí sửa chữa theo giá thị trường. Nếu tài sản bị mất, thiệt hại được xác định bằng giá trị của tài sản tương đương tại thời điểm thụ lý hồ sơ. Đối với thu nhập thực tế bị mất, thiệt hại được tính bằng công thức: số ngày thực tế bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù nhân với thu nhập trung bình một ngày của người bị thiệt hại trước khi bị bắt. Các chi phí hợp lý khác như chi phí đi lại, chi phí thuê người bào chữa, chi phí khám chữa bệnh do sức khỏe bị xâm phạm cũng được tính toán dựa trên các hóa đơn, chứng từ hợp lệ. Đây là những khoản bồi thường nhằm khôi phục lại tình trạng tài chính của người bị thiệt hại như khi chưa có sai phạm xảy ra.

4.2. Quy trình xác định thiệt hại về tinh thần cho người bị oan sai

Thiệt hại về tinh thần là khoản bồi thường nhằm bù đắp những tổn thất không thể đo lường bằng vật chất. Theo Điều 27 Luật TNBTCNN 2017, mức bồi thường được xác định dựa trên số ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù. Cụ thể, mỗi ngày bị giam giữ trái pháp luật, người bị thiệt hại được bồi thường một khoản tiền tương đương 05 ngày lương cơ sở. Trong trường hợp người bị thiệt hại chết, mức bồi thường tổn thất tinh thần được ấn định là 360 tháng lương cơ sở. Mặc dù công thức này mang lại sự rõ ràng và dễ áp dụng, nó vẫn bị xem là cứng nhắc và chưa phản ánh hết mức độ đau khổ, tủi nhục mà các nạn nhân của án oan sai và gia đình họ phải chịu đựng trong suốt thời gian dài.

4.3. Tìm hiểu về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ

Trách nhiệm hoàn trả là nghĩa vụ của NTHCV đã gây ra thiệt hại phải trả lại cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại. Đây không phải là trách nhiệm dân sự trực tiếp với người bị oan mà là trách nhiệm pháp lý với Nhà nước. Mức hoàn trả phụ thuộc vào mức độ lỗi của NTHCV (cố ý hay vô ý) và mức độ thiệt hại gây ra. Theo quy định, nếu lỗi cố ý gây thiệt hại, NTHCV phải hoàn trả toàn bộ số tiền. Nếu lỗi vô ý, mức hoàn trả có thể từ 3 đến 50 tháng lương của người đó tại thời điểm có quyết định hoàn trả. Cơ chế này vừa đảm bảo Nhà nước thực hiện nghĩa vụ với công dân, vừa tăng cường kỷ luật công vụ, buộc người tiến hành tố tụng phải có ý thức trách nhiệm cao hơn.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề Nhà nước có trách nhiệm bồi thường hay không có trách nhiệm bồi thường khi gây ra những thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho các chủ thể khác. “Trước thế kỷ XIX, TNBTCNN chưa được ghi nhận ở bất kỳ Nhà nước nào, ngay cả ở những nước châu Âu và những nước phát triển như Anh, Mỹ vì quan điểm “Vua không thể làm điều sai” - Nhà nước không thể làm những điều trái pháp luật. Hành vi gây thiệt hại của các cơ quan Nhà nước luôn được coi là hành vi trái pháp luật do lỗi của NTHCV, ngay cả trong khi thi hành công vụ”19. “Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, ở Nhà nước phong kiến, người đứng đầu Nhà nước là vua, vua có quyền quyết định tối cao về các vấn đề quân sự, chính trị, kinh tế và tôn giáo.

Trong chế độ này, Nhà nước không phải chịu bất kỳ trách nhiệm gì về những quyết sách do mình đặt ra, thần dân không có quyền gì ngoài sự 17 Khoản 1, Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015. 18 Điểm a, khoản 1, Điều 60, Luật TNBTCNN năm 2017. 19 Nguyễn Minh Đoan, “ Một số vấn đề và thực tiễn về Trách nhiệm pháp lý của Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan nhà nước ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.

218 16 phục tùng và phụng sự Nhà nước”20. Như vậy, trong xã hội phong kiến, Nhà Vua là tối thượng nên pháp quyền và bồi thường Nhà nước còn là những vấn đề xa lại. Ngày nay, Việt Nam ta là xã hội dân chủ, cùng với sự phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội thì quyền con người cũng được quan tâm nhiều hơn. Nhờ đó pháp quyền được biết đến như là phương thức tổ chức quyền lực Nhà nước sao cho sự lạm quyền không xảy ra và quyền của người dân được bảo vệ.

Bên cạnh đó, học thuyết về quyền miễn trừ xét xử của Nhà nước không phải là tuyệt đối. Đặc quyền miễn trừ xét xử chỉ có thể được sử dụng khi Nhà nước hành động với quyền hạn của chủ quyền quốc gia. Nhà nước hoặc cán bộ của nhà nước phải chứng minh được rằng, hành động bị khiếu nại là hoàn toàn tuân theo Hiến pháp hoặc các văn bản pháp luật. Khi vượt qua những giới hạn này thì quyền miễn trừ của Nhà nước không thể được áp dụng21.

Nhà nước cũng như một tổ chức hay một công dân và đều là một thực thể của pháp luật. Nhà nước là một thực thể pháp lý công. Nhà nước cũng thực hiện các hành vi pháp lý và có khả năng gây thiệt hại cho các chủ thể khác khi hành xử trái pháp luật hoặc vượt quá thẩm quyền của mình. Và khi có hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác thì Nhà nước cũng có nghĩa vụ bồi thường một cách bình đẳng như các chủ thể khác trong xã hội.

Đảm bảo quyền con người, quyền công dân Hiến pháp năm 1992 quy định “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.”22 và “mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân 20 Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín, (2018) “pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr.

21 Nguyễn Sĩ Dũng, Lê Hà Vũ (2008), “Bồi thường Nhà nước với những nguyên tắc của pháp quyền”, nghiên cứu lập pháp số 7(123), tr11. 22 Điều 72, Hiến pháp năm 1992. 17 phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự”23.

Tinh thần này lại được tiếp tục duy trì trong Hiến pháp năm 2013 “mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật” 24 và “người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”25.

Việc ghi nhận quyền được bồi thường trong Hiến pháp không thôi là chưa đủ. Để quyền bồi thường thiệt hại thật sự đi vào cuộc sống cần có một văn bản dưới Hiến pháp ghi nhận chính thức quyền này và Luật TNBTCNN 2009 ra đời đã chính thức ghi nhận quyền này. Cụ thể “người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường”26. Đến Luật TNBTCNN năm 2017 cũng quy định về quyền yêu cầu bồi thường: “những người sau đây có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường: Người bị thiệt hại; Người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại; Người đại 23 Điều 74, Hiến pháp năm 1992.

24 Khoản 1, 2, Điều 30, Hiến pháp năm 2013. 25 Khoản 5, Điều 31, Hiến pháp năm 2013. 26 Khoản 1, Điều 4, Luật TNBTCNN 2009. 18 diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự; Cá nhân, pháp nhân được những người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thường”27 Như vậy, quyền được bồi thường đã được ghi nhận trong văn bản quan trọng là Hiến pháp và được cụ thể hóa trong Luật TNBTCNN tạo ra một công cụ pháp lý để đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội, đặc biệt là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong quan hệ với các cơ quan công quyền.

Nâng cao ý thức trách nhiệm của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự Như chúng ta đã biết, thời gian qua những vụ án oan sai ngày càng nhiều. Nguyên nhân cũng bởi do hành vi trái pháp luật của NTHCV gây ra. Vì thế, vấn đề đạo đức nghề nghiệp có thể coi là yếu tố ảnh hưởng đầu tiên tới kết quả công việc của họ. Việc quy định TNBTCNN sẽ giúp những NTHCV trong hoạt động TTHS có ý thức nghề nghiệp rõ ràng hơn, từ đó luôn tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị nghề nghiệp, nâng cao ý thức để thực hiện đúng chức năng, quyền hạn và hạn chế được những sai phạm của mình.

Bên cạnh đó, việc quy định nghĩa vụ “hoàn trả” của NTHCV “là trách nhiệm của NTHCV gây thiệt hại phải trả lại một khoản tiền cho ngân sách Nhà nước” 28. Như vậy, dù NTHCV gây thiệt hại do lỗi cố ý hay vô ý đều phải có trách nhiệm hoàn trả lại một khoản tiền cho Nhà nước, tùy theo mức độ gây ra thiệt hại của mình. Chính vì vậy, NTHCV trong hoạt động TTHS sẽ phải luôn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình để có năng lực chuyên môn vững vàng và thật thận trọng khi đưa ra quyết định cuối cùng của mình trong quá trình giải quyết vụ án. 27 Điều 5, Luật TNBTCNN năm 2017.

28 Khoản 8, Điều 3, Luật TNBTCNN năm 2017. Bảo đảm quyền bình đẳng giữa Nhà nước với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trong quan hệ bồi thường Trong hoạt động TTHS, thì cơ quan tiến hành tố tụng thực thi quyền lực của Nhà nước, nhân danh Nhà nước để giải quyết các vụ án hình sự. Tuy nhiên trong quá tình tiến hành tố tụng nếu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây thiệt hại cho người vô tội thì sẽ làm phát sinh quan hệ dân sự mới là bồi thường thiệt hại. Trong quan hệ này Nhà nước có trách nhiệm đứng ra bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị vi phạm.

Việc quy định về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động TTHS sẽ giúp đảm bảo quyền lợi chính đáng cũng như đảm bảo yếu tố bình đẳng giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân bị thiệt hại trong quan hệ bồi thường. Khi giải quyết bồi thường của Nhà nước trong hoạt động TTHS thì nguyên tắc “bình đẳng” trong bồi thường đã được ghi nhận tại Điểm a, Khoản 2, Điều 46 Luật TNBTCNN năm 2017, đó chính là sự đảm bảo công bằng cho những yêu cầu của quyền con người được tôn trọng và thực thi. Đồng thời trong quá trình thương lượng phải tuân theo nguyên tắc “bảo đảm dân chủ, tôn trọng ý kiến của các thành phần tham gia thương lượng”.29 Tính dân chủ, bình đẳng trong hoạt động thương lượng một lần nữa khẳng định cho việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa Nhà nước với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trong quan hệ bồi thường. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Tóm lại: TNBTCNN trong TTHS là một dạng TNDS, tuy nhiên TNBTCNN trong hoạt động TTHS có những đặc thù cơ bản so với TNDS.

Sự khác biệt này thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối người yêu cầu bồi thường khi có hành vi sai phạm công vụ của cán bộ, công chức gây ra, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của nhân dân, góp phần hạn chế tiêu cực có thể phát sinh trong hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như động viên tinh thần đối với người thiệt hại, thể hiện sự tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 29 Điểm b, Khoản 2, Điều 46 Luật TNBTCNN năm 2017. 20 CHƯƠNG 2: CHỦ THỂ, CĂN CỨ VÀ XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ