ĐẶT VẤN ĐỀ Nội nha và nha chu là hai lĩnh vực chuyên môn luôn có mối liên quan mật thiết với nhau: bệnh lý nguồn gốc nội nha có thể dẫn tới các bệnh lý nha chu, và ngược lại. Việc chẩn đoán phân biệt giữa hai bệnh lý trên, vì thế, không hề dễ dàng, các tổn thương phối hợp giữa nội nha và nha chu là một thách thức đối với bác sĩ điều trị khi phải đưa ra chẩn đoán chính xác và tiên lượng điều trị đối với răng/ các răng liên quan. Những yếu tố dịch tễ như: vi khuẩn, nấm, virus, cùng một số yếu tố khác như: tiền sử chấn thương, các bất thường về hình thể giải phẫu răng, bệnh lý toàn thân,… sẽ đóng vai trò chủ yếu trong sự phát triển cũng như thoái lui của những tổn thương nội nha – nha chu. Một tổn thương nội nha – nha chu sẽ được định nghĩa là một tình trạng kết hợp đồng thời giữa bệnh lý tủy răng và bệnh lý nha chu trên cùng một răng/ một vùng răng.
Sự kết hợp này được đề cập đến lần đầu tiên bởi Simring và Goldberg vào năm 1964[1]. Từ đó, thuật ngữ tổn thương nội nha – nha chu được sử dùng ngày càng rộng rãi để mô tả những tổn thương có tính chất viêm nhiễm, xuất hiện đồng thời cả ở mô nha chu và tủy răng. Rãnh gót răng cửa là một bất thường giải phẫu của răng cửa, được định nghĩa là một rãnh hoặc gờ lõm kéo dài từ điểm giao giữa gót răng cửa (cingulum) với rìa bờ viền (marginal ridge) ở phía bên chân răng, đi về phía chóp răng và có thể tận hết ở ngay lỗ chóp răng [2]. Rãnh gót răng cửa có chiều dài và chiều sâu khá đa dạng [3].
Có một số các thuật ngữ khác để chỉ bất thường này: rãnh lợi vòm miệng, rãnh tận vòm miệng, rãnh tận gót răng [4–6]. Đây có thể là nơi tích tụ các mảng bám, và với độ dài tính từ gót răng cho tới gần lỗ chóp răng nên rãnh này có xu hướng tạo thành một con đường cho vi khuẩn xâm nhập vào mô nha chu bên dưới, từ đó hình thành một ổ viêm khu trú [7]. Tình trạng viêm nhiễm không được điều trị kịp thời sẽ dẫn tới các biến chứng nha chu như: mất bám dính, hình thành túi quanh răng và tiêu xương tiến triển. Bên cạnh đó, vi khuẩn cũng sẽ từ ổ viêm xâm nhập 2 ngược vào tủy răng thông qua lỗ chóp răng, các ống ngà hoặc các ống tủy phụ, tạo nên một tổn thương kết hợp nội nha – nha chu [8].
Để điều trị tổn thương nội nha – nha chu gây ra bởi rãnh gót răng cửa này cần sự kết hợp của nhiều chuyên ngành nha khoa: nội nha, nha chu, phẫu thuật, và thậm chí cả nắn chỉnh răng [9]. Tại thời điểm hiện tại, y văn thế giới mới chỉ giới hạn ở các báo cáo về chùm ca bệnh, có rất ít báo cáo dạng tổng quan nhằm hệ thống hóa và tạo một hiểu biết khái quát về dạng tổn thương gây ra bởi rãnh gót răng. Tại Việt Nam, chúng tôi chưa tìm thấy báo cáo nào đề cập đến rãnh gót răng cửa cũng như các tổn thương liên quan đến bất thường giải phẫu này. Tổng quan luận điểm sẽ tổng hợp một cách có hệ thống các tài liệu nghiên cứu lâm sàng trong y văn, dựa vào đó để đưa ra những khái niệm, những giả thuyết và những bằng chứng về một vấn đề để áp dụng vào thực tiễn lâm sàng.
Từ những lí do trên, chúng tôi đề xuất thực hiện nghiên cứu: “ Tổng quan về rãnh gót răng cửa và tổn thƣơng nội nha – nha chu liên quan” với hai mục tiêu: 1. Tổng quan về đặc điểm, hình thái rãnh gót răng cửa mà liên quan đến tổn thương nội nha – nha chu. Tổng quan về chẩn đoán và điều trị tổn thương nội nha – nha chu liên quan đến rãnh gót răng cửa. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.
Tổng quan luận điểm 1. Tổng quan luận điểm là gì? Một tổng quan luận điểm sẽ đưa ra một đánh giá sơ bộ về quy mô và phạm vi của tài liệu y văn hiện có. Mục đích của dạng tổng quan này là xác định bản chất và quy mô của các bằng chứng nghiên cứu (bao gồm cả các nghiên cứu đang diễn ra). Có một số khác biệt cơ bản giữa tổng quan luận điểm và tổng quan hệ thống truyền thống với phân tích tổng hợp.
Cả tổng quan luận điểm và phân tích tổng hợp đều bắt đầu từ một câu hỏi chính về một chủ đề cần tập trung tìm hiểu và bàn luận [29]. Tuy nhiên, tổng quan luận điểm sẽ đưa ra một câu hỏi mang tính tổng quát hơn và tập trung phân tích các y văn liên quan đến vấn đề, thay vì chỉ tập trung tìm lời giải đáp cho một khía cạnh nào đó của vấn đề đấy [30]. Đối với tổng quan hệ thống, các nhà nghiên cứu sẽ xác định một câu hỏi rõ ràng, tìm tòi và phân tích những nghiên cứu chuyên sâu với số ít các thông số. Ngược lại, tổng quan luận điểm sẽ không có chiều sâu bằng, nhưng có phạm vị tìm kiếm và phân tích rộng lớn hơn [31].
Một tổng quan luận điểm cũng mang lại sự linh hoạt hơn so với tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp. Tổng quan luận điểm sẽ phân tích cả các tài liệu y văn và nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, đây là điều hoàn toàn khác biệt đối với một bài tổng quan truyền thống. Việc phân tích dữ liệu từ bất kỳ nguồn bằng chứng nào, sử dụng bất kỳ phương pháp nghiên cứu nào, không chỉ giới hạn ở các nghiên cứu định lượng (hoặc bất kỳ dạng thiết kế nghiên cứu nào khác) là điểm đặc biệt quan trọng của tổng quan luận điểm. Tuy nhiên, điều này cũng không hoàn toàn bắt buộc, nghiên cứu viên vẫn có thể sử dụng một số các dạng thiết kế nghiên cứu cụ thể, nằm ngoài phạm vi 4 hoặc không phù hợp với tiêu chuẩn để cân nhắc và xem xét.
Vì tổng quan luận điểm sử dụng câu hỏi có tính chất rộng rãi và khái quát, nên dạng tổng quan này rất phù hợp để tổng hợp các bằng chứng từ nhiều nguồn riêng biệt, với những dữ liệu không đồng nhất. Sản phẩm cuối cùng của một tổng quan luận điểm thường là một báo cáo dạng tường thuật, với rất ít các dữ liệu thống kê. Mục đích của báo cáo này là tổng hợp các nghiên cứu về chủ đề, sắp xếp và trình bày rõ ràng những gì đã biết từ rất nhiều nguồn như: kết quả của các nghiên cứu lâm sàng, y văn, và kể cả ý kiến chuyên gia. Việc tổng hợp và sắp xếp lại các thông tin sẽ giúp chúng ta nắm được những kiến thức đã được làm rõ trong y văn, cũng như sẽ chỉ ra những lỗ hổng kiến thức về chủ đề đang tìm hiểu [32].
Điểm yếu chính của một tổng quan luận điểm là nguy cơ thiên vị (bias) và chủ quan trong quá trình tìm tài liệu, liên quan đến sự thiếu chặt chẽ của phương pháp tiến hành. Việc đánh giá chất lượng của những nghiên cứu không nằm trong các bước thực hiện một tổng quan luận điểm, do đó, các kết quả và kết luận đưa ra chủ yếu dựa trên số lượng và nội dung của những nghiên cứu hơn là chính chất lượng của những nghiên cứu đó. Bởi vậy, một tổng quan luận điểm sẽ ít giá trị trong việc đưa ra các khuyến cáo trong thực hành lâm sàng [31]. Phương thức nghiên cứu Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc tiếp cận với các tri thức mới cũng như các nghiên cứu, các báo cáo ngày một dễ dàng hơn.
Các nghiên cứu muốn phổ biến rộng, được nhiều người tìm đọc cần tăng cường tính minh bạch, độ chính xác và tính đầy đủ. Thư viện Cochrane đã thiết kế một mẫu để hỗ trợ cho việc thực hiện các tổng quan luận điểm, dựa trên các mục của tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp - the Preferred Reporting Items for Systematic reviews and Meta-Analyses extension for scoping review (PRISMA-ScR) [33]. Bảng kiểm này gồm 20 mục thiết yếu và hai 5 mục tùy chọn cần thiết lập khi thực hiện một tổng quan luận điểm. Dạng tổng quan này có nhiệm vụ tổng hợp các bằng chứng và đánh giá phạm vi của những báo cáo trong y văn về một chủ đề nào đó.
Chúng ta cũng có thể hiểu tổng quan luận điểm sẽ là tiền đề cho việc thực hiện một tổng quan hệ thống trong giai đoạn tiếp theo. Mục đích của bảng kiểm PRISMA-ScR là giúp các tác giả cải thiện chất lượng bài báo cáo của mình, hoặc dựa vào đó để phân tích các bài tổng quan hiện hữu trong y văn. Tuy nhiên, bảng kiểm này không phải là công cụ để đánh giá chất lượng của một bài tổng quan [34]. Bảng kiểm PRISMA-ScR SỐ MỤC NỘI DUNG TRANG TIÊU ĐỀ Click Xác định bài báo cáo dạng tổng quan luận Tiêu đề 1 here to điểm enter text.
TÓM TẮT Cung cấp một bản tóm tắt bao gồm: bối cảnh, mục tiêu, các tiêu chí lựa chọn, các Tóm tắt 2 nguồn bằng chứng, phương pháp lập biểu có hệ thống đồ, kết quả và kết luận liên quan các câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu Đưa ra cơ sở lý luận của bài tổng quan trong bối cảnh những tri thức đã có. Giải Nền tảng 3 thích tại sao câu hỏi/ mục tiêu nghiên cứu cơ sở lại phù hợp với phương pháp tổng quan luận điểm 6 SỐ MỤC NỘI DUNG TRANG Đưa ra một nhận định rõ ràng về các câu hỏi và mục tiêu được đề cập trong nghiên Mục tiêu cứu hoặc các yếu tố chính (thành phần 4 nghiên cứu nghiên cứu, bối cảnh và khái niệm) được sử dụng để xác định câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu. Trình tự tiến Nêu rõ nghiên cứu được tiến hành dựa hành và đăng 5 trên trình tự nào, nguồn tham khảo ở đâu, ký nghiên có thể tiếp cận được không? cứu Đưa ra các tiêu chuẩn lựa chọn cho các Tiêu chuẩn 6 nguồn bằng chứng (ví dụ: năm, ngôn ngữ, lựa chọn trạng thái xuất bản) Mô tả tất cả các thông tin trong khi tìm Nguồn thông kiếm, ví dụ: cơ sở dữ liệu, thời gian, cũng 7 tin như cách thức liên hệ với tác giả để tìm thêm các dữ liệu nếu cần Đưa ra chiến lược tìm kiếm, ít nhất là cho một cơ sở dữ liệu.