CHƯƠNG I. TỒNG QUAN VỀ DU-GIÀ HÀNH TÔNG như-tathatã, mà Đức Phật thường chỉ ra ngay không cần qua trung gian. Nay chỉ cần gọi bằng một từ là duy thức-prạịnapti-mãtra. Tiếp cận Triết học Du-già hành tông: Điều chính yếu khi khó hiểu về Du-già hành tông là sự chú ý của tông này về những vấn đề tri giác và nhận thức là sự phù hợp với tư tưởng căn bản của Phật giáo, và sự chú ý này có tính nhận thức luận hơn là siêu hình.
Khi một nhà Du-già hành tông nói về 'vật', là họ nói về vật thế có liên quan đến nhận thức, chứ không phải là một thực thể siêu hình. Vật thể được nhận thức (cảnh, cảnh giới-visayà) là thật, là phần nguyên toàn của nhận thức, và do vậy nó xuất hiện trong hoạt dụng của ý thức. Trong khi xác quyết cảnh (visaya) như là phần nguyên toàn của nhận thức, thì nó chối từ cảnh (artha), ý muốn nói theo hướng có chủ tâm; nghĩa là một vật thê có trong dự tính) hiện hữu bên ngoài hoạt dụng của ý thức mà trong đó, vật thể được trù tính. Vật thể được trù tính chỉ xuất hiện trong tác ý có dự định, nghĩa là ý thức.
Nói cách khác, Du-già hành tông không tuyên bố rằng chẳng có vật nào hiện hữu ngoài tâm. Trước hết, đối với Du-già hành tông, không có cái tâm bao quát chung chung; mà mỗi tâm thức cá nhân đều riêng biệt. Giáo lý Du-già hành tông không phải là thuyết đơn tử như kiểu Leibnitzian. Thứ hai, cảnh (artha) không phải chỉ biêu thị một vật 'trung tính', đúng hơn là nhắm đến một tác ý dự tính của tâm thức.
Tiêu điểm của dự tính- dự tính là một dạng của ham muốn - là nguyên thể cùng với thức, và, như một tiêu điểm, nó không bao giờ xuất hiện nơi đầu khác hơn là trong tác ý dự tính của tâm thức như thế. Trong Du-già hành tông, vật thể được nhận thức (visaya) và vật thể dự tính (artha) đều 29 DU-GIÀ HÀNH TÔNG hiện hữu, nhưng chỉ trong phạm vi tác ý của tâm thức mà nó được câu thành. Cao hon là sự cống hiến cho bản thể luận, những nhà Du-già hành tông nô lực khám phá và giải trừ hữu lậu và tùy miên (ãsrava, anusaya) đang thúc ép con người sinh khởi và dính mắc vào cấu trúc lý thuyết bản thể luận. Do vậy, theo Du-già hành tông, tất cả bản thể luận đều là cấu trúc nhận thức luận.
Để hiểu hoạt dụng sự nhận thức là phải biêt tại sao và thế nào mà con người lại dựng lên bản thể luận để họ bám vào. Chấp dính vào bản thể luận là một triệu chứnẹ phóng ảnh nhận thức ịpratibimba), là biến kể sở chấp (parikalpita). Khảo sát kỹ kinh văn Du-già hành tông mới thấy tông này không hề tuyên bố về bản thể luận, ngoại trừ yêu cầu xác định về giá trị của bản thể luận. Lý do họ im lặng về bản thể luận, có lẽ là muốn đưa ra một dạng siêu hình, dạng sẽ tương ưng với kiến giải của những người, do xu hướng của họ, sẽ phóng ý tưởng vào những gì thật sự mình muốn, vậy nên họ giải trừ khỏi sự mô tả lý thuyết giả định về thực tại.
Giản hóa về phóng ảnh ấy là vấn đề và triệu chứng của hầu hết mọi khuynh hướng gây phiền não cho chúng sinh. Đó là những gì phương tiện của duy thức, nghĩa là nhầm lẫn phóng ảnh của một người với cái đang chiếu rọi. Duy thức tam thập tụng của ngài Thế Thân xác định rằng nếu một người chấp vào phóng ảnh về ý tưởng duy thức, thì người ây chưa thực sự thê nhập vào sự hiểu biết về duy thức (kệ 27). Những cuộc tranh luận về Du-già hành tông thường triển khai giống như những cuộc tranh luận của các nhà duy tâm nhận thức luận.
Những cuộc tranh luận này đã lôi cuốn những học giả Tây phương đầu thế kỷ 30 CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VÈ DU-GIÀ HÀNH TÔNG XX, họ so sánh Du-già hành tông với triết học Kant, và nhiều học giả gần đây bắt đầu nghĩ rằng hiện tượng luận của Husserl31 ngày càng gần gũi hơn. Quả thực có những tương đông rât thú vị, chẳng hạn sự mô tả của Husserl về tri giác thuần lý tính và một bên là cơ cấu nhận thức,32 và mặt kia là với sự phân tích của Du-già hành tông vê năng thủ và sở thủ (grãhaka /grãhya). Nhưng cũng có nhiêu điêm khác biệt quan trọng giữa các triết gia phương Tây và các nhà Du-già hành tong.
Ba điểm chủ yếu là: a - Kant và Husserl xem nhẹ ý niệm nhân quả, trong khi Du-già hành tông phát triển hệ thống lý thuyết nhân quả phức tạp này và coi đó là vấn đề quan trọng nhất. b- Tronẹ ừiết học phương Tây, không thấy có điểm tương đông với nghiệp và giác ngộ, trong khi đây là những lý do tồn tại chủ yêu của tất cả mọi giáo lý cũng như pháp thực hành của Du-già hành tông. c- Cuối cùng, triết học phương Tây được phác họa để đáp ứng tôi đa khả năng thâm nhập vào thế giới bản thê (tôi thiêu là đủ đê nhận thức được sự hiện hữu thế giới ấy), trong khi Du-già hành tông thì phê phán động cơ này trong tất cả mọi biểu hiện của nó. 31 Edmund Husserl (1859-1938): triết gia người Đ ức, trong nhóm chù trương Hiện tượng luận.
Ô ng sinh trưởng trong m ột gia đình D o thái giáo ờ tỉnh Prossnitz thuộc M oravia, nhưng cha ông, vốn là thương gia buôn vải, đã có ý m uốn gởi con mình đến V ienna vào lúc 10 tuôi đê băt đầu theo học với nền giáo dục cổ điển Đức Sau khi thành đạt, Ông giảng dạy triết học tại Gõttingen từ năm 1901 đên 1916, và dạy tại Freiburg im Breisgau từ 1916 đến 1928. 31 DU-GIÀ HÀNH TÔNG III. NGHIỆP, VẬT THÊ, VÀ NHẬN THỨC CHỦ QUAN. Điểm then chốt của giáo lý Du-già hành tông nằm trong ý niệm về nghiệp đã được kế thừa và lý giải một cách rất chính xác.
Phật giáo nhắm vào sự hàng phục vô minh và đau khổ thông qua việc chuyển hóa các nghiệp duyên; nên trong Phật pháp, theo biện luận chặt chẽ của các nhà Du-già hành tông, chỉ quan tâm đến sự phân tích và hiệu chỉnh bất kỳ điều gì rơi vào trong lĩnh vực nhận thức. Do vì những vấn đề về thực tại tuyệt đối về những gì không-nhận-thức được đều không thích đáng cho việc chuyển hóa nghiệp. Lại nữa, các nhà Du-già hành tông nhấn mạnh vào các phạm trù như sắc (rũpa) là những phạm trù nhận thức. Vật chất (sắc) là để gọi màu sắc, dáng dấp, âm thanh, v.
mà chủng ta cảm nhận được qua tri giác, và săc ây chỉ là mức độ mà nó được nắm bắt một cách duy ý chí qua kinh nghiệm, qua nhận thức. Do đó, khí trở thành đối tượng của kiến chấp, thì sắc liền có biểu tượng của nghiệp. Hành vi cố ý cũng có động cơ luân lý và kêt quả của nó. Vì kết quả được định hình do từ nguyên nhân của sự việc, nên một hành động với tâm thiện lành sẽ có khuynh hướng gặt lấy íihững kết quả tốt đẹp, trong khi những ác ý thường làm nây sinh những kêt quả không tốt đẹp.
Đối nghịch với nhận thức về chiều hướng của nghiệp, Phật giáo xem sắc chất (s: rũpa) là nghiệp trung tính. Vấn đề của sắc chẳng phải là chất liệu của chúng, mà là tâm lý chấp thủ (s: upãdãna) - ham muốn, tham lam, chấp giữ, dính mắc - đã tràn vào CỊUấy phá ý tưởng và nhận thức của chúng ta về sắc. Chăng phải là chât vàng đưa đến rắc rối, đúng ra ý tưởng về giá trị của vàng và 32 CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VÈ DU-GIÀ HÀNH TÔNG thái độ hành xử mà chúng ta nhìn về nó như là kết quả của ý tưởng này.
Những ý tưởng này đều có được thông qua những kinh nghiệm đã có từ ữước. Bằng vào lập lại sự phơi bày những ý tưởng và nhận thức nào đó mà con người có điều kiện đáp ứng thường xuyên theo một .phong cách giống nhau cho một hoàn cảnh giống nhau. Cuối cùng, những thói quen này được thể hiện và trờ thành phản xạ và giả định. Đối với Phật giáo, tiến trình từ các điều kiện trở thành biểu hiện này (hành; s: samskãra) không phải bị hạn chế trong chỉ một đời, mà tích lũy qua rất nhiều đời.
Luân hoi (s: samsãra) là nghiệp thông qua sự tái diễn này, là sự tái hiện những thói quen biêu hiện từ nhận thức trong sắc thân mới và trong cuộc sống mới. Vì mọi Phật từ đều theo sự tính toán cảm tính đơn thuần này: thích lưu giữ hay lặp lại những cảm giác vui thích. Những cảm giác đau khổ thì chúng ta muốn cắt đứt và tránh xa. Vui sướng hay đau khổ, thưởng hay phạt, tán thành hay chê bai v., đều tùy thuộc vào mình.
Tập khí của chúng ta (s: vãsanã) được cấu thành theo cách này. Vì tất cả đều vô thường, nên cảm giác vui thích không thê tôn tại hay lặp lại thường xuyên, cảm giác đau khổ (như bệnh và chết) không thể tránh né hoài được. Sự bất hòa giữa kinh nghiệm thực chứng vê vô thường của chúng ta với ao ước về những ham muôn thường hăng bât tận càng lớn bao nhiêu thì đau khô của chúng ta càng lớn bấy nhiêu, và khuynh hướng (s: anusaya) phóng chiêu ham muốn của chúng ta vào thế giới như sự đền bù càng lớn hơnỗ Mặc dù chẳng có gì là thường, nhưng chúng ta hay tưởng tượng đến những thực thể thường hằng - từ Thượng đế đến linh hồn, đến bản thể - trong một nỗ lực để thoát khỏi phải 33 DU-GIÀ HÀNH TÔNG đối diện với sự kiện là không có ai trong chúng ta có một tự thể thường hằng cả. Hãy nghĩ rằng nếu chúng ta có thê chứng minh một điêu gì đó là thường, bất cứ điều gì, thì chúng ta cũng có cơ hội được thường hằngỗ Môi băn khoăn về quan niệm không có một tự thể, về nhận thức và những trò tinh quái của nghiệp phát sinh đã được Du-già hành tông định danh, gồm sở tri chướng (s: jneyãvarana), nghĩa là tự ám ảnh ngăn chúng ta nhận ra vạn vật như chúng đang là và tạp (s: abhũta-parikalpa), nghĩa là tưởng tượng ra điều gì đó - gọi là thường hoặc bản ngã - hiện hữu ở một nơi mà nó không có.
Các trường phái Phật học trước đây - đáng kể nhất là Kinh lượng bộ,33 mà cũng là trường phái A-tì-đạt-ma - đã phát ừiển một từ mang tính ấn dụ tinh vi để mô tả và phân tích nhân duyên của nghiệp qua thuật ngữ chủng tử.