đặt vấn đề nghiêm trọng về sự bất tử của con người. Nếu toàn thể linh hồn được giản lược vào việc mô thể hoá thân thể, thì một cách tương tự, mặc dầu ở cấp bậc cao hơn, con người cũng như các vật khác, phải thuộc về lãnh vực vật lý, và cũng như các vật ấy phải lệ thuộc vào sự sinh sản và hư hoại; vì thế không có chi của con người vượt trên lãnh vực giác cảm và bất hoại. Đó là điều nhà Hiền triết tuyệt nhiên không công nhận, và ông phải gồng minh giải quyết các vấn nạn. Từ đây ông nỗ lực phân biệt giữa ψυχή và υοΰς, nghĩa là phải phân tách xem có phải toàn thể linh hồn được định nghĩa là mô thể (έυτλέχια) của thân thể, hay là trong linh hồn còn có chức năng nào đó thuộc riêng về nó cách chuyên biệt chăng, vì nếu không có chi là riêng của linh [21] hồn thì nó sẽ không thể tách ra khỏi thân thể được.
Vậy điều riêng biệt này phải là hoạt động hay thụ động. Nhưng không thể có những biến thái hay biến trạng nếu không có sự can dự của thân thể. Trái lại trong các hoạt động có sự tư duy là điều phải quy gán cách chuyên biệt cho νοΰς là “tiềm thể đối với chân lý”, và vì nó có thể nhờ hiểu biết mà thâu tóm mọi vật, nên nó phải tinh trong, siêu thoát, bất tử và hằng cửu. Những trích văn ấy chưa đủ minh bạch, thành thử người ta đã đi đến những giải thích khác nhau, và nói chung, trước thời thánh Thomas, người ta kết luận là có một nguyên uỷ hiểu biết thiêng liêng, hoàn toàn tách biệt và duy nhất, chung cho mọi người, như vậy là phủ nhận sự bất tử cá thể, cá vị (immortalitas personalis) của linh hồn.
e) Hướng đi cụ thể của thánh Thomas. Thánh sư Thomas được hướng dẫn, ít là cách tích cực, bởi đức tin Kitô giáo về sự thân xác loài người sống lại, và về cuộc sống mai hậu, đã nỗ lực dùng lý trí tự nhiên để chứng minh sự bất hoại hay bất tử của linh hồn con người. Trong một cuốn Dẫn nhập vào Triết học của thánh Thomas Aquinas, linh mục H. Gardeil viết: “Nơi thánh Thomas những văn bản về Tâm lý học thì phong phú, đến nỗi ta phải lúng túng khi [22] [23] muốn lựa chọn”.
Thực vậy sau khi đã cùng với Aristote, phân tách và nghiên cứu thận trọng các thứ chuyển biến cũng như hoạt động tri giác, ngài đã nhận thấy là tất cả những dữ kiện đó chưa đủ để khám phá ra yếu tính của linh hồn và viện lý cho sự bất hoại hay bất tử của nó; nên ngài đã căn cứ vào những nguyên tắc trên đây mà hướng tất cả công cuộc nghiên cứu vào hoạt động tri thức hay là hiểu biết của con người, để từ đó tìm ra bản tính và những đặc trưng của linh hồn. Trong cuốn Tổng Luận gởi Lương Dân, quyển II, chương 55, thánh sư đã viện dẫn rất nhiều lý lẽ để chứng minh sự bất hoại hay bất tử của linh hồn. Trong Tổng Luận Thần học, ngay khi bắt đầu bàn về con người, trong ba mục (m.6) ngài đưa ra ba câu hỏi bàn về tính cách vô chất hay thiêng liêng của linh hồn, đến sự lập hữu và đến sự bất hoại của linh hồn. Đó là những vấn đề mật thiết liên lập với nhau, đến độ việc giải đáp vấn đề nọ sẽ, như khai đoạn, nhất thiết dẫn đến việc giải đáp vấn đề kia, theo cũng một đường hướng: vì sự vô chất của mọi bản thể thiêng liêng đòi hỏi sự lập hữu và bất hoại của các bản thể ấy; và sự bất hoại chính là sự bất tử.
Chúng ta hãy xem thánh Thomas viện lý cho mỗi đề mục như thế nào.com/news/print/kho-sach-quy/tong-luan-than-hoc-ve-con-nguoi-thahh-toma-aquino-phan-i-2939.html 10/100 10/17/24, 9:30 PM TỔNG LUẬN THẦN HỌC VỀ CON NGƯỜI - Tháhh Tôma Aquinô - Phần I ĐỀ LUẬN I. LINH HỒN CON NGƯỜI THÌ THIÊNG LIÊNG, VÔ CHẤT Để chứng minh đề luận này, trong Tổng Luận Thần học thánh Thomas đã đưa ra nhiều lý lẽ [24] có tính cách phản bác, nhưng trong các tác phẩm khác ngài đã đưa ra nhiều lẽ tích cực. Đại loại những lẽ này căn cứ hoặc vào đối tượng của nhận thức, hoặc vào cách thức nhận biết của trí năng. Ở đây chúng tôi xin trích dẫn một vài lẽ thánh sư đã sử dụng.
1) Nhiều vô kể. Sự đa phức của đối tượng đòi nói phải vô chất. Thánh nhân viết: Nếu bản thể hiểu biết là vật thể, thì vật thể này hoặc là vô hạn hay hữu hạn. Nhưng không vật thể nào là vô hạn trong hiện thể.
Còn nếu là hữu hạn, thì không vật thể hữu hạn nào có tiềm năng vô hạn. Mà tiềm năng của trí khôn, khi hiểu biết, thì một cách nào đó là vô hạn: vì hiểu biết mọi loại số, mọi loại hình thù và tỷ lệ bằng cách tăng gia đến vô hạn; lại [25] hiểu biết điều phổ quát, là một thứ vô hạn nào đó. Theo cũng một tư tưởng đó, thánh Thomas viết: Con người có thể nhờ trí năng mà nhận biết mọi bản tính hữu chất. Nhưng để có thể nhận biết như thế thì trí năng cần phải thanh thoát, không pha trộn với bất cứ bản tính thể chất nào.
Cho nên trí năng phải là vô chất, phải là [26] bản thể thiêng liêng. 1* Đây là nguyên lý nền tảng được thánh sư nhắc đi nhắc lại trong nhiều tác phẩm, chẳng hạn trong cuốn De Anima, thánh sư đã khẳng định rằng, để hiểu biết mọi thực tại thì trí khôn [27] phải được thanh thoát [denudatum] không hỗn hợp với bất cứ thực tại nào. * Việc áp dụng đúng đắn đạo lý nền tảng về tiềm thể (potentia) và hiện thể (actus) cho phép chúng ta thiết lập một kết luận khác: Chính vì trí khôn của chúng ta ở trong tiềm thể để nhận biết mọi vật thể, cho nên không phải là một vật thể, lại nguyên nó phải phiếm định đối với [28] mọi vật thể, chẳng vậy sẽ bị cản trở không thể biết mọi vật thể. 2) Tính chất vô chất là điều kiện cần thiết cho sự hiểu biết đến độ cơ quan thể chất cũng có [29] thể gây cản trở cho việc nhận biết mọi vật thể.
Trong cuốn De Anima, ngài cũng viện dẫn [30] lý chứng này. Vả lại, hai vật thể không thể chứa đựng lẫn nhau: vì vật chứa đựng phải hơn vật được chứa đựng. Nhưng hai trí khôn có thể chứa đựng và thấu đáo lẫn nhau. Trí khôn nọ có thể hiểu biết trí khôn kia.
Cho nên trí khôn không phải là vật thể (xc. b) Cách thức hiểu biết. 1* Trí khôn không thâu nhận đối tượng bằng cách sử dụng phân lượng. Một vật thể chỉ thâu nhận vật thể khác bằng cách ước tính phân lượng, vì thế vật thể lấy toàn thể để thâu nhận toàn thể; lấy từng phần để thâu nhận từng phần, lấy phân lượng lớn, bé để thâu nhận phân lượng lớn bé.
Nhưng trí khôn không thâu nhận thực tại được hiểu biết bằng cách ước tính phân lượng: vì toàn thể trí khôn nhận biết và thấu đáo toàn thể và từng phần, chẳng kỳ là lớn hay bé về phân lượng. Cho nên không bản thể hiểu biết nào là vật thể (Ibi. 2* Trí khôn có thể phản tỉnh về chính mình. Hoạt động của bất cứ vật thể nào cũng không thể phản hồi lại chính nó, như đã chứng minh trong cuốn VIII Physicis.
Nhưng trí khôn khi hoạt động có thể phản tỉnh về chính mình: vì nó hiểu biết chính mình, không phải theo từng phần, [31] mà theo toàn thể. Cho nên trí khôn không phải là vật thể. 3* Trí khôn còn có thể phản tỉnh về chính hoạt động của mình. Cho nên trí khôn không phải là [32] vật thể.com/news/print/kho-sach-quy/tong-luan-than-hoc-ve-con-nguoi-thahh-toma-aquino-phan-i-2939.html 11/100 10/17/24, 9:30 PM TỔNG LUẬN THẦN HỌC VỀ CON NGƯỜI - Tháhh Tôma Aquinô - Phần I ĐỀ LUẬN II.
LINH HỒN LÀ BẢN THỂ LẬP HỮU Từ tính cách vô chất của trí năng, như đã được chứng minh trên đây, như từ khai đoạn, thánh Thomas chứng minh sự tự lập hữu của trí năng, hay của linh hồn. Ngài nhắc lại tính cách vô chất của linh hồn để kết luận: “Con người có thể nhờ trí năng mà nhận biết mọi bản tính hữu chất. Nhưng để có thể nhận biết như thế thì trí năng cần phải thanh thoát, không pha trộn với bất cứ bản tính thể chất nào. Cho nên trí năng không phải là vô chất, phải là bản thể thiêng liêng.
Nhưng không chi có thể hoạt động như nguyên uỷ đệ nhất nếu không tự lập hữu. Cho nên linh hồn con người, mà ta gọi là trí khôn hay trí tuệ, là thực tại vô chất và lập hữu” (xc. - Nhưng nếu như thế thì làm thế nào để lý giải rằng linh hồn là mô thể của thân thể? Và cá nhân là một thực tại thuần khiết? Có thể lý giải bằng cách cùng với thánh Thomas nhìn nhận rằng: có hai cách lập hữu: 1* một là lập hữu hoàn bị về loại, như cây này, hòn đá này, người này; 2* hai là không hoàn bị về loại, như linh hồn con người. [33] Linh hồn con người, như một loại bản thể, chỉ được hoàn bị khi phối hợp với thân thể.
Thánh Thomas còn nói, nơi linh hồn nên phân biệt yếu tính và tiềm năng; để chứng minh rằng linh hồn có thể lập hữu tách biệt với thân thể: vì theo tiềm năng linh hồn có những công [34] việc riêng mà thân thể không tham dự. LINH HỒN CON NGƯỜI THÌ BẤT HOẠI HAY BẤT TỬ Đề luận này là hệ luận của những hai đề luận trên, nhưng thánh Thomas vẫn căn cứ vào đối tượng nhận thức để chứng minh sự bất tử của linh hồn. a) Thực vậy, sự hư hoại có thể xảy ra hai cách, một là do tự thể; hai là do ngẫu trừ. 1* Cố nhiên là linh hồn không thể hư hoại do ngẫu trừ, tức là do sự hư hoại của vật mà nó bám vào: vì là linh hồn là thực tại lập hữu.
2* Linh hồn nhân loại cũng không bị hư hoại do tự thể: vì điều tự thể phù hợp với vật nào thì bất khả phân ly với vật ấy. Mà linh hồn là mô thể lập hữu, và mô thể là hiện thể. Nhưng mô thể không thể lìa ra khỏi chính mình. Cho nên mô thể lập hữu không thể thôi không hiện hữu nữa (xc.
Trong Tổng Luận gởi Lương Dân thánh Thomas còn nói rõ: Sở dĩ linh hồn thì bất hoại hay [35] bất tử vì không phải là tiềm thể để không hiện hữu. b) Do đối tượng nhận thức. 1* Chính đối tượng của trí khôn cũng chứng minh sự bất tử của linh hồn.