MỞ ĐẦU Hidrazon là sản phẩm của phản ứng của các dẫn xuất aryl và ankylhidrazin với các chất hữu cơ có chứa nhóm cacbonyl. Các hidrazon ngày nay được sử dụng như là một sản phẩm trung gian để điều chế: indol, -cacbazon, pyrazol, oxazol, tetrazol, oxadiazol, cũng như các hợp chất hữu cơ chứa nitơ khác như: focmazan, diazin. những hợp chất này có nhiều ứng dụng trong công nghiệp dược phẩm và chất màu. từ chúng còn có thể chuyển hoá ra nhiều loại hợp chất khác nhau.
Ví dụ: từ focmazan có thể tạo phức với một số lớn kim loại như Fe, Cu, Co, Ni, AI, Zn., được sử dụng như một thuốc thử phân tích. Quan trọng hơn là các phức này thường có màu đặc trưng, được sử dụng làm thuốc nhuộm len, dạ, vải, tơ tam [24, 31]. Bản thân các hidrazon có hoạt tính sinh học mạnh, có tác dụng kháng khuẩn kháng nấm mạnh. Một số chất đã được sản xuất làm dược phẩm bán trên thị trường như furaxilin.
Do có ứng dụng rộng rãi như vậy cho nên đến nay các hợp chất hidrazon vẫn được nghiên cứu, nhất là các phản ứng chuyển hoá của chúng. Để đóng góp vào lĩnh vực này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tổng hợp một day các aryliđenarylsunfonylhidrazon chứa nhân: furan, pirol, thiophen, pyridin, phenyl. Nhiém vu cu thé: 1. Tổng hợp các aryliđenarylsunfonylhidrazon.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu tạo với tính chất phổ của chúng như phổ khối, phổ hồng ngoại, phổ tử ngoại. Thử hoạt tính sinh hoc của một số hợp chất tổng hợp được. Cấu tạo của dãy aryliden. Cấu tạo của các di vòng năm cạnh một di tố: furan, pirol, thiophen.
om S 4 | H Fural Pirol Thiophen Xyclopentadien Các di vòng nam cạnh chứa một dị tố mac dù về hình thức cũng chứa phần cis-dien như phân tử xyclopentadien, nhưng về bản chất cấu trúc và đặc tính hoá học thì khác han nhau. Chang hạn xiclopentatadien là hệ dien liên hợp nhưng không có cấu tạo thom, trong khi đó các dị vòng furan, pirol, thiophen ở mức độ đáng kể đều thể hiện tính thơm, mặc dù ngay giữa chúng cũng có sự khác biệt khá lớn. Theo quan điểm của thuyết obitan phân tử thì các phân tử furan, pirol, thiophen được mô tả như các hệ thống cấu tạo phẳng với bốn nguyên tử C ở trang thái lai hoá sp” và một dị tố N hay O hay S, mỗi nguyên tử C sử dụng 3 obitan lai hoá sp” để tạo liên kết & với hai nguyên tử cacbon bên cạnh (hoặc với nguyên tử di tố) và với nguyên tử hidro. Di tố nito cũng sử dụng 3 obitan lai hoá kiểu sp” để tạo liên kết với hai nguyên tử cacbon bên cạnh và với nguyên tử hidro.
Như vậy mỗi nguyên tử cacbon còn một electron p nằm 6 obitan vuông góc với mặt phẳng vòng đồng thời trên di tố oxi, nito, lưu huỳnh còn một cap electron tự do. Tat ca 6 electron này hợp thành một mach kín, bao trùm lên toàn bộ phân tử. Hệ thống 6 electron z này được giải toa trong phân tử nên làm cho vòng ổn định và thoả mãn công thức tính thơm của Hucken (>ez= 4n + 2). Cần lưu ý rang ở các nguyên tử oxi, lưu huỳnh (trong furan, thiophen) ngoài cap electron tham gia vào hệ thống thom còn có một cap electron nữa không tham gia vào hệ thống thơm mà nằm ở obitan lai hoá sp” (nằm trong mặt phẳng của vòng).
Còn theo quan điểm của phương pháp sơ đồ hoá trị thì các phân tử này được xem như các dạng lai tạo cộng hưởng của một dãy các cấu trúc giới hạn: _—H HỆ _ —NG TỔ () X (II) (II!) (IV) (V) Quan niệm này mô tả rõ ràng kết qua làm mất định xứ của cặp electron không chia xẻ ở dị tố và gan liền với sự xuất hiện điện tích âm phần trên nguyên tử cacbon của vòng (bằng điện tích dương phần xuất hiện trên nguyén tử dị tố). Ở đây cấu trúc (I) mang sự đóng góp cơ bản, vì nó không có sự phân bố điện tích. Cấu trúc (II) và (II) quan trọng hơn cấu trúc (IV) và (V) vi chúng có sự phân bố điện tích nhỏ hơn. Nói cách khác ba dạng cấu trúc cộng hưởng này phải có các mức năng lượng khác nhau và tất nhiên sự đóng góp của mỗi một trong chúng vào cấu trúc lai tạo phải tỉ lệ với độ ổn định tương đối của chúng, mà một cách tin tưởng được phân bố theo thứ tự sau (I) > (ID, (HD > (IV), (V).
Như vậy với cấu trúc electron đặc biệt các dị vòng furan, thiophen, pirol đều có tính thơm, tuy rằng về mức độ chúng đều nhỏ hon so với benzen. Nhưng độ thơm giữa ba dị vòng này cũng khác nhau, mà thứ tự có thể xếp như sau: furan < pirol < thiophen. Điều này chang những được chứng minh bang đặc tính hoá hoc mà còn được thể hiện qua giá trị năng lượng ổn định hoá của chúng: Bang 1. Năng lượng ổn định hoá của một số dị vòng 5 cạnh furan, pirol và thiophen.
Hợp chất Furan | Pirol Thiophen Nang lượng ổn định (KJ/mol) 92. 2 Ở đây ta thấy độ âm điện của các dị tố thay đổi theo dãy sau: O > N > S, bởi thế cho nên furan mang đóng góp vào sự tồn tại của các cấu trúc cộng hưởng (II) >(V) nhỏ hơn pirol và của pirol nhỏ hơn thiophen. Hay nói cách khác oxi trong furan cho đôi electron của mình tham gia vào liên hợp hoá với electron z nhỏ hơn so với N, S do đó độ thơm của furan nhỏ hơn pirol và độ thơm của pirol nhỏ hơn của thiophen. Mặt khác độ dài liên kết trong các phân tử: furan, pirol và thiophen cũng có giá trị trung gian giữa các liên kết đơn và đôi thông thường: 142A 0 0 Hàn 143A | \\—~1.37A 0 0 O“** 137A NS 438A SONA H Điều này cũng chứng tỏ sự mất định xứ của cap electron không chia xẻ trên di tố và sự đóng góp đáng kể của các cấu trúc cộng hưởng phân cực vào sự tồn tại của chúng.
Như vậy rõ ràng độ thơm của các dị vòng này phụ thuộc vào cặp electron không chia xẻ mà di tố đóng góp vào hệ thống electron Z của vòng. Cấu tạo của di vòng piridin. Piridin là dị vòng sáu cạnh chứa một dị tố nitơ. Về nhiều mặt nó rất giống với benzen, nhưng mặt khác nó cũng giống dị vòng thơm 5 cạnh một di tố nitơ (pirol).
Tuy nhiên giữa piridin và pirol cũng có nhiều điểm khác nhau, đặc biệt về bản chất và vai trò của dị tố nitơ đối với toàn bộ hệ vòng, mà từ đó dẫn tới những khác nhau về cả tính chất hoá học. Theo thuyết MO thì piridin có cấu tạo vòng phẳng, trong vòng chứa năm nguyên tử cacbon va một nguyên tử nito. Giá trị năng lượng ổn định của vòng piridin khá cao, đạt tới 134.4 KJ/mol, gần với năng lượng ổn định hoá của benzen. Nhưng khác với benzen, các độ dài liên kết trong vòng piridin không đồng đều, ở piridin khoảng cách C-C bằng 1.394A, khoảng cách C-N bang I.
Bởi thế cho nên phân tử piridin không phải là lục giác đều như benzen, nghĩa là cấu trúc không hoàn toàn đối xứng. Ở vòng piridin sự phân bố điện tích không đều và do đó xuất hiện momen lưỡng cực ( pt = 2. Chúng ta cũng gặp sự phân bố không đều mật độ electron ở vòng pirol. Nhưng giữa piridin và pirol về vấn đề này có sự khác nhau về nguyên lí, gắn liên với vai trò khác nhau của di tố nitơ trong các hợp chất này.
Nhu mô tả ở hình vẽ trên trong piridin các nguyên tử liên kết với nhau bằng các liên kết của các obitan lai hoá kiểu sp”. Ngoài ra mỗi nguyên tử đóng góp một electron p không lai hoá vào hệ thống sáu electron œ giải toa trên toàn phân tử. Nhưng trong khi dị tố nito ở pirol thể hiện tính chất cho electron và đóng góp cả cặp electron dư của mình vào hệ thống electron 7 của vòng, thì ở piridin di tố nito lại có tính hút electron va “hút” về phía mình tất ca mật độ electron của vòng. Mặc dù dị tố nito của cả hai trường hợp này đều ở trạng thái lai hoá sp”, nhưng các obitan khác nhau của chúng tham gia vào sự xây dựng vòng.
Trong trường hợp của piridin sự tạo thành hai liên kết ø và một liên kết giữa các nguyên tử C, với dị tố nito, dẫn tới một điều rang cặp electron còn lại không liến kết của nitơ nằm ở ngoài vòng. Obitan p của cặp này cũng nghiêng đi không đáng kể khỏi mặt phẳng vòng. Hình dưới đây mô tả một phân đoạn C- N-C của cấu trúc piridin Liên kết xichma sp2 Mat phẳng vòng Obitan với cap electron tự do Sự phân bố có lợi nhất các góc hoá trị giữa các obitan của dị tố nito trong hệ vòng piridin đòi hỏi sự sắp xếp nguyên tử nitơ vào vòng ở dạng cụ thể như thé nào để sao cho tiêu tốn năng lượng ở mức nhỏ nhất, và đảm bảo độ ổn định cao của vòng. Cần nhấn mạnh rằng, khi đưa nguyên tử nitơ vào vòng không chỉ làm thay đổi tính chất của bộ khung cacbon của vòng, mà sự liên hop của các electron ø trong vòng cũng anh hưởng đến bản thân di tố nito.
Sự tương tác bổ xung của cặp electron tự do bên ngoài đối với hệ electron 7 của vòng, dan tới làm giảm một chút tính bazo của piridin. Tuy nhiên nhờ có cặp clectron tự do này mà piridin chẳng những có tính bazơ mà còn dễ dàng tạo phức với các axit Liuyt, và với nhiều ion kim loại. Độ ổn định của một số phức đó phụ thuộc vào mức độ liên hợp với nhân thơm piridin. Ngoài ra chi số electron cũng xác nhận và bổ xung cho những điều da nói ở trên về cấu trúc của vòng piridin: +0,050 -0,004 +0,077 N -0,196 Tuy nhiên tất cả những điều đã trình bày (sự phân bố mật độ electron, các đại lượng năng lượng ổn định.) chỉ đặc trưng cho phân tử piridin trung hoà về điện.
Sự phân bố mật độ electron trong vòng piridin tương ứng với kết luận về đặc tính electrophin của vòng và tính nucleophin của nito. Mat khác theo thuyết lai tạo cộng hưởng thì phân tử piridin có thể được mô tả bằng sự lai tạo cấu trúc cộng hưởng giới han, với sự phan chia điện tích trong vòng: O--O--ÔcsO--0 (1) (il ID) 4V) (V) Từ sự so sánh đại lượng momen lưỡng cực của piridin (2.26D) thấy lớn hơn nhiều so với momen lưỡng cực của piperidin (I.16D), có thể kết luận rằng trong trường hợp của piridin, sự đóng góp vào lai tạo cộng hưởng của các dạng có phan bố điện tích ( II] > V ) cũng rất đáng kể.