CHƯƠNG 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN MỤC TIÊU: 1- Trình bày khái niệm về điện cực, thế điện cực, phương trình thế điện cực và cấu tạo một số điện cực trong điện hóa. 2- Trình bày khái niệm sự phân cực, quá thế và ý nghĩa của quá thế trong điện hóa. 3- Trình bày cấu tạo của bình điện phân trong tổng hợp điện hóa hữu cơ. 4- Trình bày một số đặc điểm về điện hóa hữu cơ.
5- Sử dụng phương trình Faraday trong tính toán quá trình điện phân. Một số khái niệm cơ bản trong điện phân 1. Điện cực và thế điện cực 1. Khái niệm điện cực Điện cực là hệ gồm vật dẫn loại 1 (kim loại, thanh graphit) tiếp xúc với vật dẫn loại 2 (dung dịch chất điện ly hoặc chất điện ly nóng chảy).
Thế điện cực cân bằng và phương trình thế điện cực Xét hệ điện cực tổng quát gồm hai cấu tử oxi hoá (Ox) và khử (Red). Cân bằng hệ Ox và Red như sau: Ox + ne Red (1.1) Trên ranh giới điện cực - dung dịch xuất hiện một giá trị thế, gọi là thế điện cực. Phương trình thế điện cực hay còn gọi là phương trình Nernst như sau: 𝑅𝑇 𝑎𝑂𝑥 = 𝑜 + 𝑙𝑛 (1.2) 𝑛𝐹 𝑎𝑅𝑒𝑑 o là thế điện cực tiêu chuẩn, aOx, aRed là hoạt độ chất oxi hóa và chất khử. Ở 25oC, thay T = 298 K, R = 8,314 J/mol.
Một số loại điện cực 1. Điện cực kim loại: Đó là hệ gồm kim loại đóng vai trò chất khử được nhúng vào dung dịch chứa cation của kim loại đó. Phản ứng điện cực: Mn+ + ne M Phương trình Nernst đối với diện cực kim loại: RT aM n+ M n+ /M = Mo n+ / M + ln (1.4) Sự khử nF aM Người ta xem hoạt độ ở nhiệt độ đã cho của các chất rắn nguyên chất là không đổi và đưa vào thế tiêu chuẩn. Do đó, phương trình (1.4) được viết Hình 1.
Điện cực kim loại. Sự oxi hóa RT lại: M n+ /M =Mo n+ / M + ln aM n+ (1. Điện cực kim loại – hợp chất khó tan: Là hệ điện hoá gồm một kim loại được phủ một hợp chất khó tan (muối, oxide hoặc hydroxide) và nhúng vào dung dịch chứa anion của hợp chất khó tan đó. Điện cực kim loại – hợp chất khó tan được biểu diễn như sau: M, n- MA/A.
Phản ứng điện cực: MA + ne M + An- Dạng oxi hoá ở đây là hợp chất khó tan MA và dạng khử là kim loại M và anion An-.6) 𝑛𝐹 𝑎𝐴𝑛 − Như vậy, thế của điện cực kim loại - hợp chất khó tan được xác định bởi hoạt độ của anion hợp chất khó tan. Thế của điện cực kim loại - hợp chất khó tan dễ lặp lại và ổn định, nên được sử dụng làm điện cực so sánh. Một số điện cực kim loại - hợp chất khó tan thường sử dụng trong các phép đo điện hoá như: điện cực calomel, điện cực bạc – bạc chloride. Điện cực calomel: Điện cực calomel gồm điện cực Hg có phủ bột calomel Hg2Cl2 và nhúng vào dung dịch KCl: Hg, Hg2Cl2/ Cl-.
KCl đóng vai trò chất điện li, làm tăng độ dẫn điện của dung dịch, làm cho nồng độ anion Cl- và Hg22+ ổn định. Dây Pt Hg2Cl2 Hg Dung dịch KCl Màng xốp Hình 1. Điện cực calomel. Phản ứng điện cực: Hg2Cl2 + 2e 2Hg + 2Cl- Phương trình Nernst: 𝑅𝑇 1 𝐶𝑎𝑙𝑜𝑚 𝑒𝑙 = 𝑜 + 𝑙𝑛 2 (1.7) 2𝐹 𝑎𝐶𝑙 − Ở 25oC: Cal = 0,2678 - 0,059loga Cl- (1.8) Điện cực Calomel thường được sử dụng với dung dịch KCl bão hoà hoặc 1N hoặc 0,1N.
Điện cực bạc - bạc chloride: Ag, AgCl / Cl- Phản ứng điện cực: AgCl + e Ag + Cl- Phương trình Nernst: 𝑅𝑇 1 (1. Điện cực bạc - bạc chloride. Lớp điện kép trên ranh giới điện cực – dung dịch 1. Sự hình thành lớp điện kép Khái niệm lớp điện kép được sử dụng để mô tả sự phân bố các điện tích hay các lưỡng cực trên ranh giới tiếp xúc giữa hai pha điện cực - dung dịch, hay định hướng trên bề mặt tiếp xúc giữa hai pha.
Mục đích nghiên cứu lớp điện kép để ứng dụng trong việc xác định tốc độ phản ứng điện hoá và cơ chế của các phản ứng đó, làm phương tiện nghiên cứu động học các quá trình điện hoá. Lớp điện kép trên ranh giới pha điện cực - dung dịch có thể được hình thành trong các trường hợp sau: a- Sự trao đổi ion giữa hai pha điện cực và dung dịch điện li Nếu hoá thế của ion kim loại M M trong kim loại lớn hơn hoá thế của ion kim loại trong dung dịch thì ion kim loại từ kim loại sẽ chuyển vào dung dịch, do đó bề mặt kim loại sẽ tích điện âm và hút về phía mình các ion kim loại từ dung dịch và tạo thành lớp điện kép. Ngược lại, nếu hoá thế của ion kim loại trong kim loại nhỏ hơn hoá thế của ion kim loại trong dung dịch thì ion kim loaị sẽ chuyển từ dung dịch lên bề mặt kim loại làm cho bề mặt kim loại tích điện dương, do đó hút về phía mình các anion từ dung dịch và tạo thành lớp điện kép. Nếu hoá thế của ion kim loại trong kim loại bằng hoá thế của ion kim loại trong dung dich thì sự chuyển ion từ tướng này sang tướng kia không xảy ra.
Bề mặt kim loại sẽ không tích điện. Dung dịch đó được gọi là dung dịch không. b- Lớp điện kép xuất hiện do kim loại hấp phụ một loại ion của chất điện li khác Chẳng hạn trên bề mặt cuả điện cực thuỷ ngân ngâm trong dung dịch KI sẽ có các ion I- bị hấp phụ. Các anion I- này sẽ hút lại gần mình các cation K+ và tạo thành lớp điện kép.
c- Lớp điện kép xuất hiện do sự hấp phụ định hướng các phân tử phân cực, các chất hữu cơ phân cực lên bề mặt kim loại Ngoài ra, ta cũng có thể dùng dòng điện bên ngoài để tạo thành lớp điện kép. Cho kim loại vào dung dịch chất điện li chứa ion kim loại này, chẳng hạn cho Hg vào dung dịch KCl, nhờ dòng điện bên ngoài, bề mặt Hg sẽ tích điện âm. Dưới tác dụng của lực hút tĩnh điện các cation K+ sẽ bị hút lại gần bề mặt điện cực và tạo thành lớp điện kép. Mô hình lớp điện kép Stern Theo thuyết Stern các ion có kích thước xác định; do đó tâm điểm của các ion không tiến đến sát bề mặt điện cực một khoảng cách bé hơn bán kính ion.
Giữa các ion và bề mặt điện cực có một tương tác đặc biệt không có tính chất điện. Tương tác đó là do trường lực phân tử gây ra tại một khoảng cách rất bé cách bề mặt điện cực. Do vậy, lớp ion trong dung dịch đầu tiên bị hút vào bề mặt điện cực bởi điện trường và trường lực hấp phụ tạo ra tụ điện phẳng như trong thuyết Helmholtz, nên thế giảm nhanh theo đường thẳng. Phần ion còn lại được phân bố khuếch tán tạo nên lớp khuếch tán của lớp kép như thuyết Gouy- Chapmann, do đó thế giảm từ từ.
Như vậy, mô hình cấu trúc lớp điện kép của Stern là mô hình tổng hợp của hai thuyết Helmholtz và Gouy-Chapmann. Lớp Helmholtz Ion đối Lớp kép khuếch tán Bề mặt Helmholtz Hình 1. Sơ đồ lớp điện kép và sự biến đổi thế theo mô hình Stern [5]. Sự phân cực điện cực và quá thế 1.
Sự phân cực điện cực Sự phân cực điện cực là sự lệch thế điện cực ra khỏi giá trị thế cân bằng. Sự phân cực điện cực được gây nên bởi nhiều nguyên nhân như sự thay đổi nồng độ chất phản ứng ở gần bề mặt điện cực, hoặc bởi các giai đoạn chậm quyết định tốc độ phản ứng. Sự phân cực điện cực có thể làm cho thế điện cực lớn hơn (dương hơn) hay nhỏ hơn (âm hơn) so với thế cân bằng. Khi sự phân cực điện cực xảy ra thì cân bằng điện cực sẽ bị phá vỡ và dịch chuyển về một phía nào đó.
Xét cân bằng: Mn+ + ne M cb - Nếu > cb gọi là sự phân cực anode và cân bằng sẽ dịch chuyển về phía trái (quá trình oxi hóa chiếm ưu thế). - Nếu < cb gọi là sự phân cực cathode và cân bằng sẽ dịch chuyển về phía phải (quá trình khử chiếm ưu thế). Dạng đồ thị đường cong phân cực Tafel. Quá thế Nếu bản chất của giai đoạn chậm quyết định tốc độ phản ứng được biết thì khi đó khái niệm sự phân cực được thay bằng khái niệm quá thế.
Và quá thế là sự phân cực của một phản ứng điện cực đơn. Như vậy, quá thế là độ lớn của sự phân cực điện cực được gây nên bởi giai đoạn chậm quyết định tốc độ của một phản ứng điện cực. Sự phân cực điện cực chỉ là khái niệm về sự lệch thế ra khỏi giá trị thế cân bằng. Còn quá thế là độ lớn của sự chênh lệch giữa thế điện cực và thế cân bằng sao cho cân bằng điện cực thực tế dịch chuyển về một phía nào đó mà ta có thể quan sát được về mặt thực nghiệm trên bề mặt điện cực.
Quá thế được ký hiệu là và có giá trị: = - cb. Dạng đồ thị đường cong quá thế anode và cathode. Khái niệm quá thế đôi khi cũng được sử dụng kèm với tên của một phản ứng điện cực nghiên cứu như: quá thế hydrogen, quá thế oxygen. Thiết bị đo sự phân cực và quá thế như Hình 1.§ iÖn cùc so s¸ nh § iÖn thÕ 2.§ iÖn cùc lµm viÖc kÕ mA 3.Mao qu¶n Luggin 1 5 2 3 H×nh 27.
ThiÕt bÞ®o qu¸ thÕ Hình 1. Sơ đồ hệ thống điện hoá đo sự phân cực và quá thế. a) Quá thế khuếch tán Ta xét phản ứng điện hoá khử ion kim loại hydrat Mn+. Phản ứng tổng quát xảy ra theo sơ đồ sau: Mn+.mH2O + ne M + mH2O Quá trình này gồm một số giai đoạn nối tiếp nhau: giai đoạn khuếch tán ion tới điện cực, giai đoạn phóng điện của ion Mn+, giai đoạn kết tinh.
Như đã nói trên, tốc độ của toàn bộ quá trình sẽ được quyết định bởi giai đoạn nào có tốc độ chậm nhất. Nếu giai đoạn chậm nhất là giai đoạn khuếch tán ion Mn+.mH2O đến điện cực thì sự phân cực sẽ do giai đoạn này quyết định; nồng độ ion Mn+ ở bề mặt điện cực sẽ thay đổi khi có dòng điện chạy qua.