Luận văn Dược sĩ CK I: Tồn trữ vắc xin tại TTKSBT Lạng Sơn 2020 - Trần Thị Thanh Hoa

Thông tin chi tiết về quy trình và tiêu chuẩn tồn trữ vắc xin tại Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Lạng Sơn trong năm 2020, đảm bảo chất lượng và hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2020

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tồn trữ vắc xin tại Trung tâm KSBT Lạng Sơn năm 2020

Tồn trữ vắc xin là hoạt động then chốt trong hệ thống tiêm chủng. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (KSBT) tỉnh Lạng Sơn đóng vai trò trung tâm trong việc tiếp nhận, bảo quản và phân phối vắc xin cho toàn tỉnh. Năm 2020 đánh dấu giai đoạn quan trọng trong công tác quản lý vắc xin tại đơn vị này. Hệ thống kho lạnh được trang bị hiện đại với 8 tủ lạnh chuyên dụng. Trong đó có 7 tủ bảo quản vắc xin thường và 1 tủ âm phục vụ vắc xin đặc biệt. Nhiệt độ được giám sát liên tục bằng thiết bị ghi nhiệt tự động Fridge-tag 2L. Nhân sự kho được đào tạo bài bản về quy trình bảo quản. Các loại sổ sách quản lý được cập nhật đầy đủ theo quy định. Hoạt động dự trù, cấp phát vắc xin diễn ra theo đúng quy trình. Kiểm soát tồn kho được thực hiện định kỳ. Công tác luân chuyển kho đảm bảo vắc xin luôn sẵn sàng phục vụ nhu cầu tiêm chủng của nhân dân trong tỉnh.

1.1. Vai trò của Trung tâm KSBT Lạng Sơn trong hệ thống tiêm chủng

Trung tâm KSBT Lạng Sơn là đầu mối tiếp nhận vắc xin từ Chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia. Đơn vị chịu trách nhiệm bảo quản và phân phối vắc xin cho các trung tâm y tế huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. Năm 2020, trung tâm quản lý nhiều loại vắc xin khác nhau phục vụ tiêm chủng thường xuyên và tiêm chủng chiến dịch. Vị trí địa lý tỉnh Lạng Sơn với nhiều huyện miền núi đặt ra thách thức lớn trong công tác phân phối. Hệ thống kho lạnh đạt tiêu chuẩn GSP giúp đảm bảo chất lượng vắc xin trong suốt chuỗi cung ứng. Nhân viên kho được đào tạo chuyên sâu về quy trình bảo quản lạnh.

1.2. Tình hình sử dụng vắc xin tại Lạng Sơn năm 2020

Năm 2020, hoạt động tiêm chủng tại Lạng Sơn chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, chương trình tiêm chủng mở rộng vẫn được duy trì với tỷ lệ tiêm đạt cao. Ghi nhận 18 trường hợp tai biến nặng sau tiêm chủng, trong đó 17 trường hợp thuộc tiêm chủng mở rộng và 1 trường hợp thuộc tiêm chủng dịch vụ. Hội đồng tư vấn chuyên môn đã đánh giá nguyên nhân: 7 trường hợp phản ứng phản vệ do đặc tính cố hữu của vắc xin, 1 trường hợp trùng hợp ngẫu nhiên, 3 trường hợp không rõ nguyên nhân. Không ghi nhận trường hợp nào do chất lượng vắc xin hay thực hành tiêm chủng.

II. Phân tích thực trạng bảo quản vắc xin tại Trung tâm KSBT Lạng Sơn

Kết quả khảo sát thực trạng bảo quản vắc xin tại Trung tâm KSBT Lạng Sơn năm 2020 cho thấy nhiều điểm tích cực. Hệ thống tủ lạnh hoạt động ổn định với 100% số ngày đạt nhiệt độ quy định. Tủ số 1, 3, 4, 5, 6, 7 duy trì nhiệt độ từ +2°C đến +8°C suốt 243 ngày khảo sát. Tủ âm số 2 đảm bảo nhiệt độ -20°C đến -25°C. Tủ dịch vụ số 8 cũng đạt tiêu chuẩn nhiệt độ. Thiết bị ghi nhiệt tự động Fridge-tag 2L được sử dụng cho 6 tủ, 2 tủ còn lại dùng nhiệt kế thủy ngân. Kiểm tra chỉ thị đông băng điện tử cho thấy tất cả đều hiển thị dấu tích đạt. Không có tình trạng vắc xin bị tiếp xúc với nhiệt độ đông băng. Sổ sách quản lý kho được cập nhật đầy đủ với phiếu xuất nhập kho, thẻ kho, báo cáo kiểm kê và bảng theo dõi nhiệt độ.

2.1. Hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị bảo quản

Trung tâm KSBT Lạng Sơn được trang bị 8 tủ lạnh chuyên dụng bảo quản vắc xin. Sáu tủ sử dụng thiết bị ghi nhiệt tự động Fridge-tag 2L hiện đại. Hai tủ còn lại được theo dõi bằng nhiệt kế thủy ngân truyền thống. Mỗi tủ có dung tích phù hợp với loại vắc xin được bảo quản. Hệ thống điện dự phòng đảm bảo hoạt động liên tục khi mất điện. Chỉ thị đông băng điện tử được đặt trong các tủ để giám sát chất lượng vắc xin. Hồ sơ GSP được lưu trữ đầy đủ tại kho và phòng quản lý. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện GSP chưa được tập huấn đầy đủ cho tất cả đối tượng liên quan.

2.2. Đánh giá nhân sự và quy trình quản lý kho

Nhân sự kho vắc xin tại Trung tâm KSBT Lạng Sơn được bố trí hợp lý. Nhân viên kho có trình độ chuyên môn phù hợp và được đào tạo về bảo quản vắc xin. Quy trình nhập xuất kho tuân thủ đúng quy định của Bộ Y tế. Sổ sách quản lý bao gồm phiếu xuất nhập kho, thẻ kho và báo cáo tồn kho được cập nhật thường xuyên. Hoạt động kiểm kê được thực hiện định kỳ theo quy trình. Báo cáo nhiệt độ tủ lạnh được tổng hợp hàng tháng. Công tác luân chuyển kho đảm bảo vắc xin được sử dụng theo nguyên tắc nhập trước xuất trước. Tuy nhiên, một số nhân viên chưa được tập huấn đầy đủ về quy trình GSP mới.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả tồn trữ vắc xin tại Trung tâm KSBT

Dựa trên kết quả khảo sát, nhiều giải pháp được đề xuất để nâng cao hiệu quả tồn trữ vắc xin. Thứ nhất, cần đầu tư thêm thiết bị ghi nhiệt tự động cho tất cả tủ lạnh thay vì dùng nhiệt kế thủy ngân. Thứ hai, tổ chức tập huấn định kỳ về quy trình GSP cho toàn bộ nhân viên liên quan. Thứ ba, xây dựng hệ thống cảnh báo nhiệt độ vượt ngưỡng qua tin nhắn hoặc email. Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra định kỳ và giám sát chất lượng bảo quản. Thứ năm, hoàn thiện hồ sơ tài liệu theo tiêu chuẩn GSP quốc tế. Thứ sáu, đào tạo nhân viên về quy trình xử lý khi xảy ra sự cố hệ thống lạnh. Thứ bảy, xây dựng kế hoạch dự phòng cho trường hợp mất điện kéo dài. Thứ tám, tăng cường hợp tác với các đơn vị trong hệ thống tiêm chủng để chia sẻ kinh nghiệm bảo quản vắc xin hiệu quả.

3.1. Nâng cấp hệ thống giám sát nhiệt độ tự động

Việc nâng cấp hệ thống giám sát nhiệt độ là ưu tiên hàng đầu. Tất cả tủ lạnh nên được trang bị Fridge-tag 2L hoặc tương đương thay vì nhiệt kế thủy ngân. Thiết bị ghi nhiệt tự động giúp theo dõi liên tục 24/7 và lưu trữ dữ liệu chính xác. Cảnh báo nhiệt độ vượt ngưỡng qua tin nhắn SMS giúp nhân viên kho phản ứng nhanh chóng. Dữ liệu nhiệt độ cần được sao lưu định kỳ và lưu trữ an toàn. Hệ thống giám sát từ xa qua mạng internet giúp ban lãnh đạo theo dõi tình hình bảo quản mọi lúc. Đầu tư ban đầu sẽ được bù đắp bằng hiệu quả bảo quản và giảm thiểu tổn thất vắc xin.

3.2. Đào tạo và chuẩn hóa quy trình bảo quản theo GSP

Đào tạo nhân viên là yếu tố then chốt đảm bảo chất lượng bảo quản vắc xin. Cần tổ chức tập huấn định kỳ về nguyên tắc GSP và thực hành bảo quản lạnh. Nội dung đào tạo bao gồm: quy trình nhập xuất kho, theo dõi nhiệt độ, xử lý sự cố và ghi chép sổ sách. Mỗi nhân viên cần được cấp chứng chỉ đào tạo và đánh giá năng lực định kỳ. Tài liệu hướng dẫn cần được biên soạn rõ ràng, dễ hiểu và cập nhật thường xuyên. Thực hành mô phỏng tình huống sự cố giúp nhân viên sẵn sàng ứng phó. Hệ thống đánh giá nội bộ giúp phát hiện và khắc phục kịp thời các sai sót trong quy trình.

IV. Kết luận và kiến nghị về công tác tồn trữ vắc xin tại Lạng Sơn

Kết quả khảo sát cho thấy công tác tồn trữ vắc xin tại Trung tâm KSBT Lạng Sơn năm 2020 đạt nhiều kết quả tích cực. Hệ thống tủ lạnh hoạt động ổn định với 100% ngày đạt nhiệt độ quy định. Nhân sự kho được bố trí hợp lý và có trình độ chuyên môn. Sổ sách quản lý được cập nhật đầy đủ theo quy định. Hoạt động dự trù, cấp phát và luân chuyển kho diễn ra đúng quy trình. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Việc triển khai GSP chưa được tập huấn đầy đủ cho tất cả đối tượng liên quan. Một số tủ lạnh vẫn sử dụng nhiệt kế thủy ngân thay vì thiết bị ghi nhiệt tự động. Cần tăng cường đào tạo và đầu tư trang thiết bị để nâng cao hơn nữa hiệu quả bảo quản vắc xin. Đây là cơ sở quan trọng để cải thiện chất lượng dịch vụ tiêm chủng trên địa bàn tỉnh.

4.1. Những kết quả đạt được trong công tác bảo quản vắc xin

Công tác bảo quản vắc xin tại Trung tâm KSBT Lạng Sơn đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Hệ thống kho lạnh được đầu tư hiện đại với 8 tủ chuyên dụng. Nhiệt độ bảo quản được duy trì ổn định suốt thời gian khảo sát. Không ghi nhận trường hợp vắc xin bị hư hỏng do lỗi bảo quản. Nhân viên kho thực hiện đúng quy trình nhập xuất và theo dõi nhiệt độ. Sổ sách quản lý đầy đủ, rõ ràng và dễ tra cứu. Hoạt động kiểm kê định kỳ giúp kiểm soát tốt tồn kho. Công tác luân chuyển đảm bảo vắc xin luôn sẵn sàng phục vụ tiêm chủng. Kết quả này góp phần nâng cao tỷ lệ tiêm chủng và giảm thiểu tai biến sau tiêm trên địa bàn tỉnh.

4.2. Kiến nghị cải thiện công tác tồn trữ vắc xin trong tương lai

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả tồn trữ vắc xin, cần thực hiện một số kiến nghị quan trọng. Đầu tư trang bị thiết bị ghi nhiệt tự động cho tất cả tủ lạnh. Tổ chức tập huấn định kỳ về GSP cho toàn bộ nhân viên liên quan. Xây dựng hệ thống cảnh báo nhiệt độ vượt ngưỡng qua tin nhắn. Hoàn thiện hồ sơ tài liệu theo tiêu chuẩn quốc tế. Tăng cường kiểm tra giám sát định kỳ và đột xuất. Xây dựng kế hoạch dự phòng cho tình huống khẩn cấp. Đẩy mạnh hợp tác với các đơn vị trong hệ thống tiêm chủng. Nghiên cứu áp dụng công nghệ mới trong quản lý kho lạnh. Những giải pháp này sẽ giúp nâng cao chất lượng bảo quản vắc xin và đảm bảo an toàn tiêm chủng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Trần thị thanh hoa khảo sát thực trạng tồn trữ vắc xin tại trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh lạng sơn năm 2020 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Vắc xin và tiêm chủng là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong do bệnh truyền nhiễm của nhân loại. Khoảng 85% - 95% người được tiêm chủng sẽ sinh ra miễn dịch đặc hiệu bảo vệ cơ thể không bị mắc bệnh. Người được tiêm chủng không bị mắc bệnh và không bị chết hay di chứng do bệnh dịch gây ra. Nhờ có vắc xin hàng năm trên thế giới đã cứu sống được khoảng 2,5 triệu trẻ em không bị chết do bệnh truyền nhiễm.

Vắc xin và tiêm chủng góp phần quan trọng để đạt được mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về giảm tỷ lệ tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi trên toàn thế giới [30]. (30) Ở nước ta, chương trình Tiêm chủng mở rộng được Nhà nước quan tâm và chỉ đạo thực hiện từ đầu những năm 80. Đến năm 1990 đã có 100% số huyện với trên 96,4% số xã triển khai chương trình. Đến nay, đang có 10 loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm phổ biến có vắc xin được cung cấp miễn phí trong chương trình TCMR.

Nhờ có tiêm chủng, hàng năm hàng triệu trẻ được bảo vệ nhờ miễn dịch chủ động, không bị mắc, chết hay gặp di chứng do các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bảo vệ cho hàng triệu phụ nữ và trẻ sơ sinh không bị mắc uốn ván trong sản khoa. Tiêm chủng mở rộng được Bộ Y tế và các tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những chương trình Y tế công cộng hiệu quả và thành công nhất ở Việt Nam. Ngoài tiêm chủng mở rộng, tiêm chủng dịch vụ cũng ngày cảng trở nên phổ biến để thỏa mãn nhu cầu tiêm chủng cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau, đặc biệt cho các gia đình có khả năng và có nhu cầu mở rộng chủng loại vắc xin, cũng như chất lượng dịch vụ tư vấn, chăm sóc lâu dài. Dù là tiêm chủng mở rộng hay tiêm chủng dịch vụ thì đều hướng tới mục tiêu dự phòng và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.

Để đạt được mục tiêu này, công tác tiêm chủng phải đảm bảo yêu cầu cả về số lượng và chất lượng. Chất lượng tiêm chủng đang là vấn đề được ngành y tế rất quan tâm, do đã gặp nhiều trường hợp tai biến sau tiêm, thậm chí tử vong, ngoài ra tình trạng thiếu hụt vắc xin cũng thường xuyên xảy ra gây hoang mang, lo lắng cho người dân. Có nhiều chỉ tiêu để đảm bảo chất lượng như tỷ lệ tiêm chủng đủ 1 liều, an toàn tiêm chủng, hiệu lực của vắc xin, hệ thống lưu trữ, bảo quản và vận chuyển. Trong đó, hiệu lực của vắc xin là yếu tố quan trọng vì vắc xin là một chế phẩm đặc biệt rất nhạy cảm với nhiệt độ, cần được duy trì nhiệt độ bảo quản liên tục, phù hợp trong suốt quá trình bảo quản, vận chuyển.

Vắc xin có thể bị hỏng hoặc mất hiệu lực nếu không được bảo quản đúng cách. Như vậy, kiến thức về bảo quản, dự trữ vắc xin của nhân viên y tế tại cơ sở bảo quản vắc xin được coi là một yếu tố quan trọng để đảm bảo an toàn trong tiêm chủng. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Lạng Sơn có 01 phòng tiêm chủng dịch vụ và thực hiện cấp phát vắc xin tiêm chủng mở rộng cho 11 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. Việc bảo quản, dự trữ vắc xin tại tuyến tỉnh không đảm bảo sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động tiêm chủng của cả tỉnh.

Tháng 3/2020, Trung tâm đã có thông báo đáp ứng thực hành tốt bảo quản vắc xin, tuy nhiên, cần đánh giá chất lượng thực sự của việc thực hành tốt bảo quản vắc xin tại đơn vị, đảm bảo vắc xin được bảo quản đúng quy định và dự trữ vắc xin đầy đủ, cung ứng liên tục, kịp thời. Bản thân tôi chính là người chịu trách nhiệm chuyên môn của kho bảo quản vắc xin, tiếp nhận công việc từ tháng 3/2020, trong quá trình tiếp cận công việc, tôi nhận thấy công tác bảo quản và dự trữ vắc xin còn nhiều vấn đề bất cập. Xuất phát từ thực thế đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát thực trạng tồn trữ vắc xin tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Lạng Sơn năm 2020” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng bảo quản vắc xin tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Lạng Sơn năm 2020.

Mô tả thực trạng dự trữ vắc xin tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Lạng Sơn năm 2020. Từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động tồn trữ vắc xin tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Lạng Sơn. Tổng quan về vắc xin và tồn trữ vắc xin 1. Một vài nét về vắc xin và tiêm chủng Vắc xin là thuốc chứa kháng nguyên tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch được dùng với mục đích phòng bệnh, chữa bệnh [14].

(22) Dựa vào nguồn gốc, có thể chia vắc xin thành 04 loại: - Vắc xin sống, giảm độc lực: Là những vắc xin được sản xuất từ vi sinh vật gây bệnh nhưng đã được giảm độc lực, không còn khả năng gây bệnh. Vắc xin sống giảm độc lực gần giống như đáp ứng với nhiễm trùng tự nhiên nên chúng tạo ra đáp ứng miễn dịch và sinh kháng thể mạnh, thường gây ra miễn dịch lâu dài chỉ với 1 hoặc 2 liều. Ví dụ: BCG, vắc xin phòng bệnh sởi, rubella, quai bị, thủy đậu… - Vắc xin bất hoạt: Là những vắc xin được sản xuất từ vi sinh vật gây bệnh đã chết. Ví dụ: IPV, DPT.

- Vắc xin tinh chế, tái tổ hợp, polysacarit, cộng hợp: Là những vắc xin có nguồn gốc từ một phần cấu trúc của vi sinh vật. Ví dụ: VGB, vắc xin phòng bệnh phế cầu… - Vắc xin giải độc tố: Là vắc xin được điều chế từ độc tố của vi khuẩn sau khi đã làm mất đi khả năng gây độc của nó nhưng vẫn giữ tính kháng nguyên. Ví dụ: vắc xin phòng bệnh uốn ván, bạch hầu… [22]. (4) Bản chất việc tiêm chủng là sử dụng vắc xin để kích thích cơ thể sinh ra miễn dịch chủ động đặc hiệu chống lại một bệnh truyền nhiễm nào đó.

Đến nay đã có khoảng 30 bệnh truyền nhiễm có vắc xin phòng bệnh và khoảng 190 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa văc xin vào sử dụng phổ cập cho người 3 dân và tiêm chủng thực sự có vai trò rất lớn đối với toàn xã hội [31]. Từ năm 1985 tới nay, toàn bộ trẻ em dưới 1 tuổi trên toàn quốc đã có cơ hội được tiếp cận với Chương trình TCMR. Đến năm 2010, đã có 11 vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm phổ biến, nguy hiểm cho trẻ em được đưa vào Chương trình bao gồm vắc xin phòng bệnh lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm gan B, sởi, viêm não Nhật Bản, tả, thương hàn, viêm phổi/viêm màng não mủ do Hib [28]. Danh mục bệnh truyền nhiễm và vắc xin bắt buộc TCMR Các bệnh truyền STT nhiễm có vắc xin Vắc xin Đối tượng sử dụng tại Việt Nam Vắc xin VGB đơn giá Trẻ sơ sinh 1 Bệnh VGB Vắc xin phối hợp có chứa thành Trẻ em dưới 1 tuổi phần VGB 2 Bệnh lao Vắc xin lao Trẻ em dưới 1 tuổi Vắc xin phối hợp có chứa thành Trẻ em dưới 1 tuổi 3 Bệnh bạch hầu phần bạch hầu Trẻ em dưới 2 tuổi Vắc xin phối hợp có chứa thành Trẻ em dưới 1 tuổi 4 Bệnh ho gà phần ho gà Trẻ em dưới 2 tuổi Vắc xin phối hợp có chứa thành Trẻ em dưới 1 tuổi 5 Bệnh uốn ván phần uốn ván Trẻ em dưới 2 tuổi Vắc xin uốn ván đơn giá Phụ nữ có thai Vắc xin bại liệt uống đa giá Trẻ em dưới 1 tuổi 6 Bệnh bại liệt Vắc xin bại liệt tiêm đa giá Trẻ em dưới 1 tuổi Vắc xin Haemophilus influenzae Bệnh do týp b đơn giá hoặc vắc xin phối 7 Haemophilus Trẻ em dưới 1 tuổi hợp có chứa thành phần influenzae týp b Haemophilus influenzae týp b Vắc xin sởi đơn giá Trẻ em dưới 1 tuổi 8 Bệnh sởi Vắc xin phối hợp có chứa thành Trẻ em dưới 2 tuổi phần sởi Trẻ em từ 1 đến 5 9 Bệnh VNNB B Vắc xin VNNB B tuổi Vắc xin phối hợp có chứa thành 10 Bệnh rubella Trẻ em dưới 2 tuổi phần rubella 4 1.

Khái niệm về tồn trữ Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO): Tồn trữ là sự bảo quản tất cả các nguyên liệu, vật tư, bao bì dùng trong sản xuất, mọi bán thành phẩm trong quá trình sản xuất và các thành phẩm trong kho. Tồn trữ không chỉ là việc cất giữ thuốc trong kho mà nó còn là cả quá trình xuất, nhập kho hợp lý, quá trình kiểm tra, kiểm kê, dữ trữ và các biện pháp kỹ thuật bảo quản hàng hóa từ khâu nguyên liệu đến các thành phẩm hoàn chỉnh trong kho. Công tác tồn trữ là một trong những mắt xích quan trọng của việc đảm bảo cung cấp thuốc cho người tiêu dùng với số lượng đủ nhất và chất lượng tốt nhất, giảm đến mức tối đa tỷ lệ hư hao trong quá trình sản xuất và phân phối thuốc [2]. Quy định về bảo quản vắc xin Vắc xin là thuốc, vì vậy kho bảo quản vắc xin phải đạt các tiêu chuẩn về thực hành tốt bảo quản thuốc theo quy định tại Thông tư số 36/2018/TT- BYT [8].

Cụ thể, đối với kho bảo quản vắc xin chương trình TCMR tuyến tỉnh, triển khai áp dụng GSP quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này. Ngoài ra, việc bảo quản vắc xin phải tuân thủ các quy định tại Thông tư số 34/2018/TT-BYT [7]. Các yếu tố ảnh hưởng đến vắc xin Vắc xin có dạng thành phẩm là dung dịch hoặc bột đông khô kèm dung môi pha hồi chỉnh. Hiệu lực của vắc xin có thể giảm khi vắc xin tiếp xúc trực tiếp với nhiệt độ cao hoặc nhiệt độ đông băng.

Khi đã giảm hiệu lực, vắc xin không thể hồi phục trở lại. - Ảnh hưởng của nhiệt độ cao tới vắc xin Tất cả các vắc xin đều chịu ảnh hưởng bởi nhiệt độ nhưng một số vắc xin nhạy cảm với nhiệt độ cao hơn các vắc xin khác. Độ nhạy cảm của vắc xin đối với nhiệt độ được xếp thứ tự như sau: 5 Bảng 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ cao tới vắc xin Mức chịu ảnh hưởng Tên vắc xin OPV Nhạy cảm cao Sởi DPT BCG HIB, Bạch hầu - uốn ván (trẻ nhỏ) Ít nhạy cảm hơn Uốn ván - bạch hầu (trẻ lớn), uốn ván, VGB, VNNB * Tất cả các vắc xin đều trở nên nhạy cảm với nhiệt độ cao sau pha hồi chỉnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ