Chương 1: Cơ sở lí luận về tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Licogi 13 Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Licogi 13 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP Tổng quan về tài sản và tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Khái niệm về tài sản Theo chuẩn mực kế toán quốc tế: Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ, mà từ đó một số lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến một cách hợp lí. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam: Tài sản là nguồn lực mà doanh nghiệp kiểm soát được và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Tài sản của DN được hình thành từ các hoạt động như: góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, biếu tặng,. Tài sản được biểu hiện dưới dạng tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc thiết bị, hàng hóa hay dưới dạng tài sản vô hình như bản quyền, bằng sáng chế, phát minh nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp.
Ngoài ra, tài sản của DN có thể bao gồm tài sản không thuộc quyền sở hữu của DN nhưng DN lại có quyền kiểm soát và thu được lợi ích từ việc kiểm soát đó như tài sản thuê tài chính,. Phân loại tài sản Tài sản được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Một trong những tiêu chí dùng để phân loại tài sản bao gồm: Thứ nhất, căn cứ vào nguồn hình thành tài sản bao gồm: được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu và được tài trợ bởi vốn nợ. Cách phân loại này giúp DN thấy tài sản được hình thành từ nguồn nào để từ đó có biện pháp quản lí và sử dụng sao cho hiệu quả tối ưu nhất.
Thứ hai, căn cứ theo hình thái biểu hiện bao gồm: tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể do DN sử dụng cho HĐKD. Tài sản vô hình không có hình thái vật chất cụ thể nhưng xác định được giá trị, do DN quản lí và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ ba, căn cứ theo thời gian sử dụng bao gồm: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
Tài sản ngắn hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển trong một năm hoặc một chu kì sản xuất kinh doanh. Tài sản dài hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng hoặc vòng luân chuyển vốn lớn hơn một năm hoặc lớn hơn một chu kì sản xuất kinh doanh, thường là nhà xưởng, máy móc thiết bị hoặc các khoản phải thu dài hạn,. Cuối cùng, căn cứ theo tính luân chuyển bao gồm: tài sản cố định và tài sản lưu động. Tài sản cố định là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài.
Những 1 biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản lưu động hay tài sản ngắn hạn. Nội dung của bài khóa luận này chỉ đề cập đến tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Khái niệm tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Trong cuốn Kế toán – Kiểm toán và Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính Hà Nội năm 2010 của GS. Ngô Thế Chi, PTS.
Đoàn Xuân Tiến và PTS. Vương Đình Huệ đã định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn là tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền, hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một năm hoặc một chu kì kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có đến thời điểm báo cáo” Như vậy, TSNH của DN là những khoản mục có khả năng chuyển đổi dễ dàng và là mắt xích quan trọng trong quá trình tạo ra doanh thu. Tuy là yếu tố tồn tại trong ngắn hạn nhưng nếu có phát sinh trục trặc sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của công ty.
Phân loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh TSNH trong khâu dự trữ là toàn bộ tài sản của DN trong khâu dự trữ không xét đến hình thái biểu hiện của chúng bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu, hàng tồn kho, công cụ dụng cụ và trả trước cho người bán. Các TSNH này đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN được diễn ra thuận lợi và liên tục. TSNH trong khâu sản xuất bao gồm: sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, các khoản chi phí chờ kết chuyển. được sử dụng trong quá trình sản xuất hình thành nên sản phẩm, đảm bảo cho các công đoạn sản xuất không bị gián đoạn.
TSNH trong khâu lưu thông bao gồm: thành phẩm, hàng gửi bán, hàng hóa mua ngoài và các khoản vốn dùng trong thanh toán. Phân loại TSNH gắn với các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh giúp các nhà quản lí DN xác định được quy mô và cơ cấu của TSNH trong từng khâu để có thể phát hiện những bất ổn và có những cân nhắc, điều chỉnh cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH của DN. Phân loại theo hình thái biểu hiện của tài sản ngắn hạn Tài sản bằng tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển,các khoản đầu tư bằng tiền, phải thu khách hàng, các khoản tạm ứng, kí quỹ, kí cược. 2 Tài sản bằng vật tư, hàng hóa là những tài sản tồn tại dưới dạng hiện vật bao gồm: nguyên vật liệu dùng cho quá trình sản xuất, hàng hóa, hàng tồn kho, sản phẩm dở dang, hàng mua đang đi đường,.
Cách phân loại này cho phép DN biết được kết cấu TSNH theo hình thái biểu hiện để có những điều chỉnh hợp lí và hiệu quả. Phân loại tài sản ngắn hạn dựa trên các khoản mục trên bảng cân đối kế toán Tiền và các khoản tương đương tiền: là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh của DN thuộc TSNH được hình thành chủ yếu trong quá trình bán hàng và trong các quan hệ thanh toán. Tiền mặt là số vốn bằng tiền do thủ quỹ bảo quản tại quỹ (két) của DN, bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, tín phiếu và ngân phiếu. Tiền gửi là số tiền mà DN gửi tại các ngân hàng, kho bạc Nhà nước hoặc các công ty tài chính.
Tiền đang chuyển là các khoản tiền mặt, tiền séc đã xuất khỏi quỹ của DN và đã nộp vào Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước để trả cho các đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo của Ngân hàng. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Đầu tư tài chính là một hoạt động đầu tư bên ngoài DN nhằm sử dụng hợp lí các nguồn vốn để tăng thu nhập như: mua bán chứng khoán, góp vốn liên doanh, cho vay lấy lãi, kinh doanh bất động sản, cho thuê tài sản,. Tùy theo thời hạn thu hồi vốn mà đầu tư tài chính được chia thành 2 loại: đầu tư tài chính ngắn hạn và đầu tư tài chính dài hạn. Các khoản phải thu: Các khoản phải thu là các khoản nợ của cá nhân, tổ chức về số tiền mua hàng hóa, dịch vụ chưa thanh toán cho DN.
Các khoản phải thu là một bộ phận của TSNH bao gồm: phải thu khách hàng, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, phải thu nội bộ, phải thu khác, tạm ứng, các khoản cầm cố, kí quỹ, kí cược ngắn hạn. Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lí doanh nghiệp không cân đối giữa các khoản phải thu thì DN sẽ gặp khó khăn, thậm chí dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán. Hàng tồn kho: Hàng tồn kho của DN là những tài sản được giữ để bán trong kì sản xuất hoặc đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang. Hàng tồn kho của mỗi DN có thể bao gồm: 3 + Hàng hóa mua về để bán + Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán + Sản phẩm dở dang và chi phí sản xuất kinh doanh dở dang + Nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu + Thành phẩm, hàng hóa được lưu giữ tại kho bảo thuế của DN Hàng tồn kho là thành phẩm chiếm một phần lớn trong tỉ trọng tài sản kinh doanh của DN, bởi vì đây là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh thu và những khoản thu nhập thêm sau này cho DN.
Thông thường, tỉ trọng hàng tồn kho lớn luôn là mối lo ngại của nhà quản lí DN do DN phải tốn chi phí dự trữ, chi phí thanh lí hay chi phí cải tiến hàng lỗi thời. Do đó, việc quản lí và sử dụng hàng tồn kho cũng là một trong những vấn đề mà nhà quản lí cần quan tâm xem xét. Một số loại TSNH khác bao gồm: tạm ứng, các khoản kí quỹ, kí cược ngắn hạn,. Cách phân loại TSNH này cho phép DN đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của DN.
Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn không ổn định, luôn vận động, thay đổi hình thái liên tục trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh. Vì ngắn hạn nên nó có thể được chuyển hóa từ tiền tệ sang vật chất khác và ngược lại. Mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ có những hình thái về tài sản ngắn hạn là khác nhau. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp ít chịu rủi ro khi liên quan đến biến động về giá trị tài sản ngắn hạn.
Tài sản ngắn hạn luôn được đảm bảo khả năng thanh toán, khả năng sinh lời nhằm tránh lãng phí của tài sản sau quá trình luân chuyển. Tài sản ngắn hạn nhanh chóng thích nghi với sự biến động lên xuống của sản xuất và doanh số của doanh nghiệp. Điều này là do những khoản đầu tư cho tài sản ngắn hạn có thể được thu hồi dễ dàng, không tốn quá nhiều chi phí. Tài sản ngắn hạn luôn vận động và chuyển hóa trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.