Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng VLĐ và tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Phân tích hiệu quả sử dụng VLĐ tại CTCP bánh kẹo Hải Hà. Chương 4: Định hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ tại CTCP bánh kẹo Hải Hà.
3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là mục tiêu phấn đấu lâu dài của mỗi DN. Hiệu quả sử dụng vốn nói chung và hiệu quả sử dụng VLĐ nói riêng gắn liền với hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN. Do vậy, vấn đề sử dụng vốn một cách có hiệu quả luôn là vấn đề đặt ra với mọi DN.
“Hiệu quả sử dụng VLĐ” là một đề tài đƣợc quan tâm trong nhiều công trình nghiên cứu đã công bố. Đàm Văn Huệ, 2006 trong cuốn “Hiệu quả sử dụng vốn trong các DN vừa và nhỏ” đã chỉ ra tính chất, đặc điểm của các DN vừa và nhỏ cũng nhƣ các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và VLĐ nói riêng. Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê, hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp, trong đó số lƣợng doanh nghiệp vi mô chiếm một vị trí đáng kể. Các doanh nghiệp này hiện đang sử dụng 50% lực lƣợng lao động của nền kinh tế và đóng góp khoảng 40% GDP hằng năm.
Tuy nhiên, hiện nay một trong những khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là thiếu vốn, số lƣợng doanh nghiệp này tiếp cận đƣợc vốn của các ngân hàng thƣơng mại thƣờng chỉ chiếm khoảng 30%. Nguyên nhân là do các DN vừa và nhỏ hạn chế về năng lực tài chính; các DN vừa và nhỏ vẫn chƣa thiết lập đƣợc chiến lƣợc thuyết phục các nhà tài trợ, chƣa xây dựng đƣợc mục tiêu chiến lƣợc kinh doanh dài hạn, do đó không thuyết phục đƣợc ngân hàng cho vay; báo cáo tài chính của DN vừa và nhỏ chƣa phản ánh đầy đủ kết quả SXKD, hệ quả là việc phân tích, đánh giá tình hình tài chính của DN vừa và nhỏ không đủ độ tin cậy, ảnh hƣởng đến quyết định cấp tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại đối với DN. Tác giả đã đề ra nhiều giải pháp để giải quyết khó khăn về vốn cho các DN vừa và nhỏ. Ngoài ra, tác giả cho rằng, trong công tác quản lý VLĐ, vấn đề tối quan trọng là 4 z phải xác định đƣợc nhu cầu VLĐ cần thiết, tuy nhiên đây lại là một vấn đề phức tạp.
Tùy theo đặc điểm kinh doanh và điều kiện cụ thể của DN trong từng thời kỳ mới có thể lựa chọn áp dụng các phƣơng pháp khác nhau để xác định nhu cầu VLĐ. Trần Văn Nhã, 2012 đã nghiên cứu và đƣa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ tại Công ty cổ phẩn lƣơng thực Đà Nẵng, đó là việc dự toán nhu cầu VLĐ cần thiết cho quá trình hoạt động kinh doanh của công ty; lập ngân sách tiền mặt bằng việc dự tính nguồn thu và các khoản chi, sau đó tiến hành cân đối cả về thời gian và khối lƣợng tiền tổng nguồn thu và tổng các khoản chi để giảm thiểu chênh lệch; xây dựng quy trình thu nợ với đầy đủ thời hạn của các khoản nợ, biện pháp tác động đến khách hàng và bộ phận thực hiện, nâng cao hiệu quả thu hồi nợ bằng việc sử dụng kế toán thu hồi nợ chuyên nghiệp hoặc sử dụng dịch vụ bao thanh toán; hoàn thiện chính sách bán chịu; thiết lập mô hình tồn kho hợp lý, gồm có việc xác định khối lƣợng đặt hàng tối ƣu, xác định điểm đặt hàng lại, xác định dự trữ tồn kho an toàn, xác định độ lớn đơn hàng tối ƣu trong trƣờng hợp đƣợc giảm giá theo số lƣợng. Luyện Thị Thanh Hà, 2013 trong luận văn thạc sỹ của mình đã chỉ ra rằng áp dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ cần dựa trên cơ sở phân tích đánh giá chính xác thực trạng của từng đơn vị để nghiên cứu, đề xuất giải pháp cụ thể gắn với điều kiện hoàn cảnh thực tế của đơn vị mới đạt đƣợc kết quả mong muốn. Tác giả cho rằng, thay đổi nhận thức và nhận thức đúng đắn về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là việc làm cần thiết, trƣớc hết là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của ngành để hội nhập và là cơ sở đảm bảo cho sự phát triển bền vững đối với công ty.
Đồng thời, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ nói riêng và vốn kinh doanh nói chung trƣớc hết phải 5 z trên cơ sở vận động của chính bản thân doanh nghiệp, chứ không thể ỷ lại, trông chờ vào Nhà nƣớc. Ngô Thu Yến, 2010 khi nghiên cứu về hiệu quả sử dụng VLĐ tại CTCP Xây lắp bƣu điện Hà Nội (Hasisco) đã nhận thấy rằng dù ở bất kỳ môi trƣờng nào, nhân tố con ngƣời vẫn đƣợc đặt lên hàng đầu, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt nhƣ hiện nay, DN không chỉ cần có vốn, công nghệ mà quan trọng hơn cả là con ngƣời. Trong những năm qua, Hasisco chƣa tận dụng đƣợc hết sức lực, trí tuệ của cán bộ công nhân viên trong công ty, chƣa phát huy đƣợc hết tiềm năng con ngƣời. Công ty cần phải xét lại cơ cấu nhân sự, tìm hiểu đánh giá năng lực, trình độ của từng ngƣời, quy hoạch và đào tạo cán bộ quản lý có trình độ lý luận và thực tiễn để có thể quản trị tốt VLĐ và các vấn đề khác trong công ty.
Tăng cƣờng bồi dƣỡng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là cán bộ quản lý tài chính. Cán bộ lãnh đạo, cán bộ tài chính phải năng động, nhạy bén với thị trƣờng, mặt hàng. Phát huy đƣợc nhân tố con ngƣời chính là phát huy đƣợc nội lực to lớn trong tổng thể các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói riêng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty nói chung. Hà Thị Thanh Huyền, 2012 sau khi nghiên cứu về hiệu quả sử dụng VLĐ tại Công ty cổ phần liên doanh Tƣ vấn và xây dựng – COFEC, đã chỉ ra một số nguyên nhân của việc hiệu quả sử dụng VLĐ chƣa cao.
Nguyên nhân khách quan là tốc độ tăng trƣởng chậm của nền kinh tế, sức mua của thị trƣờng bị giảm sút; những rủi ro bất thƣờng trong quá trình sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, những rủi ro thiên tai nhƣ lũ lụt, hỏa hoạn,… mà các DN không thể lƣờng trƣớc đƣợc; tác động của cách mạng khoa học công nghệ làm giảm giá trị của tài sản, vật tƣ; chính sách của Nhà nƣớc thay đổi về luật, thuế,… Ngoài ra còn có các nguyên nhân chủ quan nhƣ xác định nhu cầu VLĐ thiếu chính xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn 6 z trong SXKD; việc lựa chọn phƣơng án đầu tƣ hiệu quả hay không; trình độ quản lý DN yếu kém; việc kinh doanh thua lỗ kéo dài, lợi dụng sơ hở của các chính sách gây thất thoát VLĐ. Trần Xuân Nghĩa, 2012 trong nghiên cứu của mình cũng đã đề ra đƣợc các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ tại Viễn thông Lâm Đồng, trong đó có giải pháp quan hệ tốt với ngân hàng trong việc vay vốn và thanh toán vì đây là nguồn VLĐ cơ bản linh hoạt và thuận tiện. Cụ thể nhƣ thanh toán đúng thời hạn quy định, tuyệt đối không để nợ quá hạn, sử dụng tiền vay đúng mục đích, thực hiện các thủ tục vay một cách nghiêm túc. Đồng thời, phải quan hệ tốt với khách hàng, vì đây là điều kiện quyết định sự tồn tại của một DN trên thị trƣờng.
DN cần không ngừng nâng cao uy tín với khách hàng, luôn giao hàng đúng thời hạn, đủ số lƣợng, chất lƣợng, mẫu mã, quy cách nhƣ trong hợp đồng. Trƣờng hợp hàng có lỗi không đúng nhƣ yêu cầu, DN cần sẵn sàng bồi thƣờng thiệt hại hoặc giảm giá số hàng đó. Tác giả cũng nhận thấy rằng làm thế nào để có những phƣơng thức quản lý vốn lƣu động hữu hiệu nhất góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung của mỗi doanh nghiệp, là một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Nhìn chung, hiệu quả sử dụng VLĐ không phải là vấn đề mới, tuy nhiên, tại đơn vị nghiên cứu là CTCP Bánh kẹo Hải Hà, trong giai đoạn từ 2012 – 2014 thì chƣa có nghiên cứu nào.
Việc tác giả chọn đề tài “Hiệu quả sử dụng VLĐ tại CTCP Bánh kẹo Hải Hà” nhằm đáp ứng ý nghĩa lý luận và thực tiễn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG CỦA MỘT DOANH NGHIỆP 1. Vốn lưu động và vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm Khác với tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động chỉ tham gia và một chu kì sản xuất, đến chu kì sản xuất sau lại phải sử dụng các đối tƣợng lao động khác.
Phần lớn các đối tƣợng lao động thông qua quá trình chế biến hợp thành thực thể của sản phẩm nhƣ bông thành sợi, cát thành thủy tinh, một số khác bị mất đi nhƣ các loại nhiên liệu. Bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có các đối tƣợng lao động. Trong DN, đối tƣợng lao động chính là các tài sản lƣu động. Tài sản lƣu động là những tài sản ngắn hạn và thƣờng xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh.
Trong bảng cân đối kế toán của DN, tài sản lƣu động đƣợc thể hiện ở các bộ phận: tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho. Giá trị các loại tài sản lƣu động của DN sản xuất thƣờng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng tài sản. Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, liên tục, đòi hỏi DN phải có một lƣợng tài sản lƣu động nhất định. Do đó, để hình thành nên các tài sản lƣu động, DN phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tƣ vào các tài sản đó.
Số vốn này đƣợc gọi là VLĐ của DN (Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển, 2010). Từ những sự phân tích trên có thể rút ra: “VLĐ của DN là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lƣu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của DN đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục.