CHƯƠNG 1 MOT SO LÝ LUẬN CƠ BẢN VE TRUYEN THONG MARKETING VA TRUYEN THONG MARKETING TREN MANG XA HOI FACEBOOK CUA DOANH NGHIEP 1. Khai quat vé truyén thong marketing 1. Khái niệm và vai trò của truyền thông marketing Khái niệm Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp luôn hướng đến việc tạo ra giá trị cho người tiêu dùng và khiến cho người dùng biết đến, thấu hiểu một cách chính xác và rõ ràng về giá trị đó. Do vậy, truyền thông marketing (marketing communication) theo Philip Kotler chính là “Các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và bản thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục ho tin tưởng vào doanh nghiệp cũng như sản phẩm, và mua sản phẩm của doanh nghiệp” - Marketing Management (2012).
Mục đích của truyền thông marketing là giới thiệu, thu hút sự chú ý và nhắc nhở người xem về sản phẩm và dich vụ của các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh. Bằng việc sử dụng các thông điệp truyền thông, doanh nghiệp thông báo cho khách hàng, người sử dụng về sự hiện diện của mình, của sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường, thuyết phục và nhắc nhở khách hàng nhớ đến sản phâm và dịch vụ của mình. Doanh nghiệp có thé sử dụng nhiều phương tiện khác nhau dé truyền thông marketing như qua Internet, báo chí, truyền hình, truyền miéng,. Mỗi phương tiện đều có ưu điểm, nhược điểm riêng tùy thuộc vào khả năng của mỗi tô chức và sự phát triển của xã hội.
Vai trò Đối với cá nhân, truyền thông marketing tạo ra một khối lượng dit liệu đồ sộ, giúp cho người tiêu dùng dễ dàng tìm thấy mọi thông tin cần thiết để đáp ứng nhu cầu của họ, ví dụ như địa điểm mua hàng, chủng loại sản phẩm, so sánh giữa các thương hiéu,. từ đó thỏa mãn nhu cầu của bản thân một cách tốt hơn. Truyền thông marketing tạo ra nhiều phương tiện giúp người tiêu dùng có thê gửi phản hôi và nhận xét về trải nghiệm của mình đôi với sản phâm dịch vụ của doanh nghiệp tới cộng đồng cũng như doanh nghiệp cung ứng, từ đó doanh nghiệp tiếp nhận thông tin và cải thiện để làm hài lòng khách hàng một cách tốt hơn. Không những vậy, truyền thông marketing còn là một yếu tố giúp người tiêu dùng không chỉ thấy được được những giá tri về mặt lợi ích sử dụng, mà còn là những giá trị khác như danh tiếng, giá tri tinh thần.
Đối với tổ chức, truyền thông marketing là công cụ chủ đạo trong việc truyền đạt thông điệp mà doanh nghiệp muốn đưa đến đến nhóm đối tượng khách hàng mục tiêu rộng hơn. Truyền thông giúp tổng hợp tất cả các yếu tố tiên quyết của marketing để doanh nghiệp thực hiện triển khai quảng bá hình ảnh của họ với khách hàng, nuôi dưỡng lòng tin của khách hàng dé họ tiếp tục tin tưởng và ủng hộ doanh nghiệp. Đôi khi, điều này có thể trở thành một vũ khí cạnh tranh cho doanh nghiệp. Có thê ví truyền thông marketing giống như “cầu nối” giữa doanh nghiệp và khách hàng khi nó mang tới hàng loạt các phương tiện giúp kết nối doanh nghiệp và khách hàng, khiến cho việc “giao tiếp” giữa hai bên trở nên thuận tiện, kịp thời va dé dàng hơn, từ đó doanh nghiệp kinh doanh có thé năm bắt, phân tích và đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Những thông tin, hình ảnh, giá trị của sản phẩm, dịch vụ được doanh nghiệp sử dụng truyền thông marketing đề đưa tới khách hàng tiềm năng, và thuyết phục họ mua sản pham/ dịch vụ. Do vậy, truyền thông marketing có giúp doanh nghiệp tăng lượng bán, thúc đây việc kinh doanh và tạo ra sự nhận biết của khách hàng đối với thương hiệu và xây dựng hình ảnh ấn tượng trong tâm trí người tiêu dùng. Tuy nhiên, chỉ sử dụng truyền thông là chưa đủ, doanh nghiệp cũng cần kết hợp các hoạt động, công cụ truyền thông phù hợp với các công cụ khác của marketing mix như sản phẩm, giá cả, khuyến mãi dé tạo ra kết quả như mong muốn. Các công cụ của truyền thông marketing Đề hoạt động truyền thông marketing đạt hiệu quả tối ưu, doanh nghiệp cần sử dụng hợp lý các công cụ trong truyền thông nhằm bé trợ cho các hoạt động marketing nói chung.
Tùy vào nhu cau và nguồn lực, công ty cần sử dụng và lựa chọn khéo léo các công cụ này để đạt được hiệu quả doanh nghiệp mong muốn. a, Quang cáo (Advertisment) Theo hiệp hội marketing Mỹ “Quang cáo là bat cứ loại hình nào của sự hiện diện không trực tiếp của hàng hóa, dịch vụ hay tư tưởng hành động mà người ta phải trả tiên để nhận biết quảng cdo”. Doanh nghiệp thường dựa vào đặc điểm của thị trường mục tiêu, sản phâm và các yêu tô khác như ngân sách, mục tiêu chung của chiên dịch đê đưa ra các mục tiêu quảng cáo. Thông thường, quảng cáo sẽ giúp doanh nghiệp: - Tăng lượng bán sản phẩm, dịch vụ - Mở rộng khu vực kinh doanh với khách hàng mới - Giới thiệu sản phẩm mới tới người dùng - Gợi nhớ hình ảnh thương hiệu của công ty trong tâm trí người dùng Quảng cáo được doanh nghiệp sử dụng nhiều trong giai đoạn đầu chu kì sống của sản phẩm dé tăng nhận diện hình ảnh sản phẩm và kích thích sự tò mò, ý định muôn mua của khách hàng.
So với việc sử dụng các hình thức quảng cáo đại chúng như: báo chí, truyền hình, phát thanh, quảng cáo OOH (Out-of-home) - biển quảng cáo ngoài trời,. thì Internet là phương tiện truyền thông được hầu hết các doanh nghiệp lớn nhỏ sử dụng nhờ tính tiện lợi, thông minh và chi phí phải chăng, phù hợp với việc tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. b, Quan hệ công chúng (Public Relations) Quan hệ công chúng là việc doanh nghiệp tô chức thực hiện các hoạt động xã hội dé xây dựng hình tượng uy tín, vi cộng đồng, doanh nghiệp phát triển bền vững trong mắt người tiêu dùng và công chúng nói chung. Đây cũng là hoạt động giúp củng cố mối quan hệ của doanh nghiệp với các đối tác làm ăn.
Điều khác biệt giữa quan hệ công chúng và quảng cáo đó là doanh nghiệp không phải chi trả cho các phương tiện truyền thông như đối với quảng cáo. Một số hoạt động của quan hệ công chúng có thé ké tới bao gồm: thống kê tình hình kinh doanh gửi các cổ đông, mời phóng viên phỏng vấn sự kiện, sự kiện gây quỹ. c, Xúc tiến bán (Sale Promotion) Xúc tiến bán bao gồm tập hợp các biện pháp giúp kích thích ý định mua của người tiêu dùng, nhưng đa phần là các biện pháp ngắn hạn, tạm thời và được tạo ra dé kích thích người mua (bao gồm cả khách hàng cá nhân và khách hàng tô chức), ra quyết định mua nhanh hơn hoặc mua nhiều hơn sản phẩm/ dịch vụ. Đối với người mua là cá nhân thì các chính sách khuyến mãi sẽ nhằm thúc day ho mua nhiều hơn, chang hạn như các chương trình mua | tặng 1, giảm 20%,.
Đối với khách hàng là các đại lý hay trung gian, mục tiêu của xúc tiễn bán là tăng cường phân phối tại các nhà bán lẻ, đại lý bằng việc đưa ra những lợi ích tốt hơn cho họ như quà tặng kèm, tăng chiết khấu. d, Bán hàng cá nhân (Personal selling) Là việc trình bày, giới thiệu một cách trực tiếp sản phẩm, dịch vụ thông qua người đại diện cho doanh nghiệp, tổ chức. Bán hàng cá nhân diễn ra khi khách hàng giao tiếp mặt đối mặt với người bán và họ được trực tiếp tư vấn, lựa chọn và mua sản phẩm. Công cụ này yêu cầu người bán cần có sự khéo léo nhất định, linh hoạt và sáng tạo trong cử chỉ, lời nói dé ứng xử với các tình huống và khách hàng khác nhau, làm sao đề bán được sản phâm/ dịch vụ ngay trong quá trình giao tiếp.
e, Marketing trực tiếp (Direct marketing) Hiệp hội marketing trực tiếp (DMA) của Mỹ định nghĩa: “Marketing trực tiếp là một hệ thống tương tác marketing có sử dụng một hay nhiễu phương tiện truyền thông để tác động đến công chúng mục tiêu nhằm nhận được một phản ứng dap lại do lường được hay việc giao dịch tại bắt kỳ địa điểm nào ”. Nói cách khác, marketing trực tiếp đưa thông tin tới người tiêu dùng bằng cách gửi tài liệu chào hàng đưới dạng ấn pham, catalog, hay mẫu dùng thử dé chào hàng, giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ của công ty. Những thông tin về dịch vụ được chào bán sẽ được trình bày một cách thu hút, sinh động, ngắn gọn và hấp dẫn nhăm giúp đưa thông tin về sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng tiềm năng. Khái quát về truyền thông marketing qua mạng xã hội Facebook 1.
Khái niệm về truyền thông marketing trên mạng xã hội Facebook Mạng xã hội Facebook Được thành lập từ năm 2004, Facebook là một mạng xã hội, một “sân chơi” đặc biệt cho phép người dùng có thé thu thập và đăng tải thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Người dùng Facebook cũng có thê chia sẻ thông tin bằng nhiều khác nhau như cập nhật tình trạng cá nhân, gửi tin nhắn cho bạn bè, đăng các bài viết trong các nhóm xã hội, hoặc viết đánh giá trên các trang Facebook. Nhờ vậy, Facebook được người tiêu dùng và doanh nghiệp vô cùng ưa thích và lựa chọn sử dụng. Tính đến năm 2020, Facebook đã có hon 2,8 tỷ người dùng hoạt động hàng tháng và xếp thứ 7 về mức độ phô biến toàn cầu.
Theo số liệu thống kê, tính đến tháng 6/2020, con số này tại Việt Nam lên tới 69 nghìn người dùng sử dụng, chiếm 70,1% toàn bộ dân số. Truyền thông trên mạng xã hội Facebook Truyền thông trên mạng xã hội Facebook là việc sử dụng nền tảng mạng xã hội Facebook dé kết nối với cộng đồng, xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp và quảng bá thông tin sản phẩm, dịch vụ. Theo thống kê, năm 2020 Facebook có hơn 90 triệu doanh nghiệp sử dụng Facebook. Tại Việt Nam, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức truyền thông marketing trên mạng xã hội, đặc biệt là Facebook.
Trong đó, phải kế đến hình thức truyền thông qua Fanpage - được coi như một nơi để các nhà sáng tạo nội dung được tự do đăng tải và quản lý một cách chặt chẽ hoạt động truyền thông của mình. Đối với các nhà quản lý truyền thông marketing, có một mạng lưới người dùng lớn như vậy cũng đồng nghĩa với việc đó là một cơ hội tốt dé kiếm tiền và truyền thông marketing về giá trị của sản phâm cũng như của thương hiệu, do đó cần có chiến lược sử dụng nền tảng Facebook như một công cụ marketing kỹ thuật sỐ trong thị trường trực tuyến ngày càng phát triển một cách khéo léo và hiệu quả.