Chương 1: Co sở lý luận về hoạt động quản trị kênh phân phối trong ngành kinh doanh nông sản Việt Nam Chương 2: Giới thiệu về công ty Cổ phan phát triển Dũng Hà và thực trang hoạt động quản trị kênh phân phối của công ty Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị kênh phân phối của Công ty cô phần phát triển Dũng Hà CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOAT ĐỘNG QUAN TRI KENH PHAN PHÓI TRONG NGANH KINH DOANH NÔNG SAN VIET NAM 1. Giới thiệu về ngành nông sản Việt Nam 1. Tổng quan về ngành nông sản Việt Nam Ngành nông sản được quy định theo Nghị định 57/2018/ND-CF là sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, diêm nghiệp. Sản phẩm nông sản tiêu dùng trực tiếp gồm các cây lương thực, hoa quả, rau củ, động vật tươi sống, thuỷ sản tươi sống,.
Các sản phẩm nông sản chế biến là các thực phẩm được làm từ nông sản, gồm: bánh mì, sản phẩm từ sữa, bánh kẹo, xúc xích, nước ngọt, cà phê,. Đây được coi là ngành chủ lực của Việt Nam, chủ yếu là xuất khâu. Ngành nông sản được Nhà nước coi là ngành chiến lược, xuất khâu quan trọng, đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khâu chung của cả nước. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 2020 đạt 41,2 tỷ USD, năm 2021 đạt 48,6 tỷ USD trong khi nhiều quốc gia trên thế giới phải đối mặt với tình trạng tăng trưởng âm.
Tại thị trường trong nước, ngành nông sản có tốc độ tăng trưởng khá cao. Năm 2021, trong thời kỳ đại dịch Covid — 19, tình trạng “giải cứu nông sản” diễn ra tại nhiều nơi. Chuỗi cung ứng nông sản trì trệ, xuất khâu ùn tắc. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của ngành vẫn tăng 2,9%, cao hơn mức 2,58% của cả nền kinh tế, đóng góp 13,97% vào tốc độ tăng tông giá trị tăng thêm của nền kinh tế.
Tinh đến cuối năm 2021, hệ thống doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông sản nước ta có khoảng 52. Mục tiêu mà chính phủ đặt ra là đến năm 2030 là đạt 80 000 — 100 000 doanh nghiệp, trong đó có 3000 — 4000 doanh nghiệp có quy mô lớn và 6000 — 8000 doanh nghiệp có quy mô vừa. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành nông sản Việt Nam hiện phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức trong bối cảnh hội nhập và suy thoái kinh tế. Việc xuất khâu nông, lâm, thủy sản hiện gặp nhiều khó khăn do lạm phát tại các nước tăng cao, một SỐ quốc gia thắt chặt tín dụng do lạm phát, người dân cũng hạn chế mua sắm dẫn đến hàng tồn kho dư thừa.
Theo thông tin từ Công thông tin điện tử Bộ Tài Chính, ngành nông sản trong nước cũng gặp một số trở ngại. Chi phí vật tư đầu vào phục vụ sản xuất nông sản còn ở mức khá cao dẫn đến chi phí sản xuất tăng. Từ đó ảnh hưởng tới mặt bằng giá nhóm hàng thực phẩm có tỷ trọng tiêu dùng lớn như gạo, rau củ, trái cây, thịt lon. Đến giữa năm 2022, thực trạng ngành nông sản đã có nhiều biến chuyển khởi sắc.
Chuỗi cung ứng dân khôi phục và ôn định, việc sản xuât nông sản cũng thuận lợi hơn. Tính đến hết 2022, toàn ngành đã tăng trưởng trên 3% so năm trước. Theo số liệu của Tông cục thống kê, năm 2022, kim ngạch xuất khâu toàn ngành đạt 53,22 ty USD, tăng 9,3% so với năm 2021. Trong đó, có một số mặt hàng có giá trị xuất khâu cao hơn cùng kỳ năm trước kim ngạch xuất khâu vượt 2 tỷ USD: ca phê đạt 3,5 ty USD (tăng 31,5%), gạo với 3,2 tỷ USD (tăng 6,9%), cá tra đạt 2,2, tỷ USD (tăng 61%), gỗ và sản phẩm từ gỗ với 14,6 tỷ USD (tăng 9%),.
Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 3,33%. Trong đó trồng trot tăng 2,88%, chăn nuôi tăng 5,93%, thủy sản tăng 4,43%, lâm nghiệp tăng 6,13%. Dù gặp khó khăn, nhưng ngành nông sản vẫn cho thấy tiềm năng phát triển lớn. Với quy mô dân số gần 100 triệu người, thị trường trong nước có tiềm năng lớn dé đây mạnh tiêu thụ hàng nông sản, nhưng lại chưa được các doanh nghiệp khai thác triệt để và hiệu quả.
Theo số liệu từ báo GOV Chính phủ, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông sản chỉ chiếm 8% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, một con số rất khiêm tốn so với tiềm năng và lợi thế phát triển của ngành. Từ trước đến nay, Việt Nam luôn được biết đến là nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Nhà nước cũng chú trọng đến xuất khẩu, coi nông sản là ngành xuất khâu trọng điểm. Điều đó góp phần khiến cho hầu hết các doanh nghiệp day mạnh hoạt động xuất khẩu, bỏ ngỏ thị trường trong nước.
Thị trường trong nước lúc này là “mảnh đất màu mỡ” cho các doanh nghiệp khai thác và tham gia thi trường. Đặc điểm các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nông sản Theo con số báo cáo tại Hội nghị toàn quốc thúc đây doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp thì các doanh nghiệp đầu tư vào nông sản còn khá khiêm tốn, doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ chiếm đa số lên tới hơn 90%. Hiện nay cả nước có hơn 53.000 doanh nghiệp đầu tư vào ngành nông sản, chiếm khoảng 8% tổng số doanh nghiệp hoạt động trên cả nước. Trong đó, doanh nghiệp trực tiếp sản xuất chỉ chiếm 9.471 doanh nghiệp, còn loại là doanh nghiệp chế biến và doanh nghiệp kinh doanh nông sản.
Các doanh nghiệp sản xuất nông sản ở nước ta hiện nay chủ yếu là quy mô sản xuất bình quân nhỏ, đầu tư thấp nên hiệu quả sản xuất chưa cao. Theo nghiên cứu của báo Đại đoàn kết — Cơ quan Trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2022 thì hiện nay nhiều doanh nghiệp đã và đang đầu tư mạnh hơn vào khâu chế biến nông sản, đa dang hoá sản xuất dé đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của thị trường. Các nhà sản xuất cũng kết nối với nhau, liên minh dé cung ứng nhiều sản phẩm chất lượng ra thị trường. Nhà nước dé ra mục tiêu trong Chiến lược phát triển cơ giới hóa nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thủy sản là đến năm 2025, có hơn 70% số cơ sở chế biến nông sản chủ lực đạt trình độ và năng lực công nghệ từ trung bình hoặc tiên tiến trở lên.
Việc sản xuất nông sản phụ thuộc một phần hoặc hoàn toàn vào sự tái sản xuất của hệ thong sinh hoc gom động vật, thực vật, đất đai. Áp dụng quy trình công nghệ vào sản xuất. Tuy nhiên, ở nước ta, công nghệ chế biến nông sản còn chưa được hiện đại hoá hoàn toản. Phần nhiều doanh nghiệp sản xuất nhỏ lẻ, thủ công nhiều hơn dùng máy móc.
Doanh nghiệp kinh doanh nông sản là những doanh nghiệp không tham gia vào quá trình sản xuất gồm nuôi trồng, chăn nuôi, đánh bắt hay chế biến nông sản. Họ phân phối sản phẩm nông sản đến người tiêu dùng, đóng vai trò là cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng. Đối với mặt hàng nông sản tiêu dùng trực tiếp, các doanh nghiệp này sẽ thu mua từ các trang trại, vườn, những hộ sản xuất và hợp tác xã nông nghiệp. Nhà sản xuất chủ yếu ở đây chính là người nông dân.
Họ không phải chủ kênh phân phối, mà chỉ làm nhiệm vụ sản xuất và giao dịch với doanh nghiệp phân phối. Họ đòi hỏi những người trung gian quan hệ phải là người mua hàng đã nhiều năm, mua bán rõ ràng, lấy hàng nhanh, đúng hẹn, có sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính. Đối với mặt hàng nông sản chế biến, các doanh nghiệp kinh doanh sẽ nhập hàng từ các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp sản xuât và phân phôi sản phâm đên người dùng. Xu hướng tiêu dùng nông san của người tiêu dùng cuối cùng Lựa chọn hàng đầu của người tiêu dùng hiện nay là những sản phẩm tốt cho sức khỏe.
Vì thế mà nông sản sạch và nông sản hữu cơ ngày càng được ưa chuộng. Nông sản sạch là những nông sản được sản xuất theo các tiêu chuẩn: Hạn chế tối đa hoặc không sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích. Theo nghiên cứu năm 2022 của báo Đại đoàn kết (Cơ quan Trung ương của Mặt trận Tô quốc Việt Nam), hiện nay có khoảng 80%, người tiêu dùng chấp nhận mua hàng nông sản ở siêu thị vì họ tin rằng thực phẩm ở siêu thi an toàn hơn, sạch hơn. Số người thích mua hàng ở chợ truyền thống hiện nay chỉ chiếm khoảng 25%.
Ngoài ra, có đến khoảng 88% người tiêu dùng nhận biết được và cảm thấy yên tâm khi mua sản phẩm nông sản với nhãn hiệu logo hàng Việt Nam chất lượng cao, chứng nhận ISO, đạt tiêu chuẩn VietGAP. Xu hướng tiêu dùng nông sản xanh, sạch đang lan tỏa ngày càng mạnh mẽ và bảo vệ môi trường sống trở thành mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng. Theo một báo của về Phát triển bền vững của Nielsen thì có đến 86% người dùng Việt sẵn sàng chi trả cao hơn dé mua các sản phẩm nông sản đến từ những công ty có ảnh hưởng tích cực đến doanh nghiệp. Theo kết quả khảo sát của Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao, người tiêu ding cũng càng quan tâm đến chất lượng và có xu hướng lựa chọn nông sản hữu cơ.
Nông sản hữu cơ được sản xuất và trồng trọt theo quy trình tiêu chuẩn của nông nghiệp hữu cơ với 4 tiêu chí: Không hóa chất nhân tạo (thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, chất bảo quản), không hormone kích thích tăng trưởng, không kháng sinh và không sinh vật biến đổi gen. Kết quả khảo sát cũng đã chỉ ra các tiêu chí quyết định tiêu dùng nông sản của người tiêu dùng gồm: Sản phẩm bat mắt, ngon, hợp khẩu vị (87%), sản phẩm an toàn và tốt cho sức khỏe (80%), sản phẩm có bao bì thông tin rõ ràng (39%) và sản phâm hữu cơ (26%).1: Các tiêu chí quyết định tiêu dùng sản phẩm nông sản của người tiêu dùng 100% 90% 80% 70% 60% 50% 40% 30% 20% 10% 0% Sản phẩm bắt mắt, San phẩm an toàn, tốt Sản phẩm có bao bì ghi Sản phẩm hữu cơ ngon, hợp khẩu vị cho sức khỏe thông tin rõ ràng (Nguồn: Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao) 1. Xu hướng phát triển hiện nay của ngành nông sản Nông sản chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi người tiêu dùng, do nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và đời sống của con người. Xu hướng tiêu dùng nông sản sạch và nông sản hữu cơ đang ngày càng tăng cao.