Chương 1: Đặc điểm sản phẩm, tổ chức sản xuất và quản lý chi phí tại công ty cổ phần Bê tông, xây dựng A&P. Chương 2: Thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Bê tông, xây dựng A&P. Chương 3:Nhận xét và kiến nghị. - Ưu điểm: Tác giả đã nghiên cứu khá kỹ về đặc điểm sản phẩm, tổ chức sản xuất và quản lý chi phí tại công ty cổ phần Bê tông, xây dựng A&P.
Hạch toán khá đầy đủ và chi tiết về thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty. Từ đó đưa ra được nhiều giải pháp sát thực giúp cho công ty giảm thiểu chi phí. Nhược điểm: Tác giả chưa đưa vào trong đề tài của mình một vài tài liệu, số liệu, chứng từ gốc được photo nên bài luận văn cũng giảm đi tính thuyết phục người đọc. Kết cấu các phần chưa hợp lý, logic.
Chưa trình bày được quy trình ghi sổ kế toán chi tiết và ghi sổ tổng hợp Tác giả chưa có những đánh giá tổng quan về đề tài nghiên cứu: mục tiêu, phạm vi, phương pháp, cơ sở các tài liệu tham khảo, cũng như sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty trong bài báo cáo. Tác giả chưa có những ví dụ liên quan đến đề tài khiến cho người đọc khó hình dung ra quy trình làm việc của những phần hành đó. 14 CHƢƠNG 2: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 2.1: Đặc điểm của sản phẩm xây lắp, vai trò và nhiệm vụ của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.1: Đặc điểm của sản phẩm xây lắp Trong những năm thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế mới cũng như tất cả các ngành sản xuất kinh doanh trong cả nước, ngành xây dựng cơ bản ngày càng thích nghi và phát triển. Với mục tiêu hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, Xây dựng cơ bản lại càng khẳng định được vị trí của mình trong lĩnh vực kinh doanh.
Do tính chất ngành XDCB là ngành sản xuất vật chất, có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, cải tạo, đổi mới cơ sở hạ tầng nhưng sản phẩm lại mang những đặc điểm riêng biệt so với sản phẩm của các ngành khác. Vì vậy tổ chức hạch toán ở các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp phải dựa trên những đặc điểm chính của nó. Sản phẩm xây lắp là các công trình, hạng mục công trình có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian thi công kéo dài và phân tán. Vì vậy trong khi tiến hành xây lắp, sản phẩm dự định đều phải trải qua các khâu từ dự án rồi đến dự toán công trình.
Dự toán công trình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư công trình tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn tất cả các điều kiện sản xuất như xe máy, lao động, vật tư. đều phải di chuyển theo địa điểm của công trình xây lắp. Sản phẩm xây lắp hoàn thành không nhập kho mà lại tiêu thụ ngay theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận, do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không được thể hiện rõ.
15 Từ những đặc điểm trên, công tác kế toán trong các đơn vị xây lắp vừa phải đảm bảo yêu cầu phản ánh chung của một đơn vị sản xuất. Ghi chép, tập hợp đầy đủ chi phí và giá thành sản phẩm, thực hiện phù hợp với ngành nghề, cung cấp thông tin và số liệu chính xác nhằm phục vụ tốt cho quản lý doanh nghiệp.2: Vai trò kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Chi phí và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với doanh thu, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy được chủ doanh nghiệp rất quan tâm. Thông qua số liệu hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành do bộ phận kế toán cung cấp, các nhà lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giá thành thực tế từng công trình, hạng mục công trình, để phân tích và đánh giá tình hình thực hiện các định mức, dự toán chi phí, tình hình sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, tiết kiệm hay lãng phí, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, từ đó đề ra các biện pháp hữu hiệu kịp thời nhằm hạ thấp chi phí và giá thành sản phẩm xây lắp đồng thời đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm. Đó là một trong những điều kiện quan trọng tạo cho doanh nghiệp một ưu thế cạnh tranh.
Mặt khác, giá thành sản phẩm còn là cơ sở để định giá bán sản phẩm, là cơ sở đề đánh giá nội bộ, phân tích chi phí, đồng thời còn là căn cứ để xác định kết quả kinh doanh.3: Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Để tổ chức tốt kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đáp ứng tốt yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành ở doanh nghiệp, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: -Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp xây lắp. 16 -Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phù hợp với phương pháp kế toán doanh nghiệp đã lưuạ chọn. -Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí theo đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác định, theo các yếu tố chi phí và khoản mục giá thành. -Lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố (trên thuyết minh báo cáo tài chính); định kỳ tổ chức phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp xây lắp.
-Tổ chức kiểm kê và đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang khoa học, hợp lý, xác định giá thành và hạch toán giá thành sản phẩm hoàn thành xây dựng trong kỳ một cách đầy đủ và chính xác.2: Cơ sở lý luận về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 2.1: Chi phí sản xuất 2.1: Khái niệm chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. Sản xuất ra của cải vật chất là hoạt động chủ yếu nhất trong tất cả các hoạt động kinh tế của con người. Nó là nền tảng, cơ sở để tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Theo kinh tế chính trị Mac – Lê nin thì cho dù ở phương thức sản xuất nào, quá trình sản xuất cũng bao gồm 3 yếu tố cơ bản, đó là: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Theo đó, quá trình sản xuất chính là quá trình tiêu hao sản phẩm, nhà sản xuất phải bỏ ra các chi phí về thù lao lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Như vậy chúng ta có thể kết luận rằng, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí là sự chuyển dịch vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ).2: Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất của doanh nghiệp rất đa dạng.Chúng có nội dung, tính chất, mục đích và vai trò đối với mỗi quá trình sản xuất là khác nhau.Để thuận lợi cho công tác quản lý hạch toán cũng như giúp sử dụng tiết kiệm, hợp lý thì cần phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Và cũng xuất phát từ các mục đích và yêu cầu khác nhau của quản lý thì chi phí sản xuất được phân loại theo những tiêu thức khác nhau: Phân loại CPSX theo nội dung và tính chất kinh tế của chi phí Theo cách phân loại này, người ta căn cứ vào nội dung tính chất kinh tế của chi phí, không phân biệt vào việc chúng phát sinh ở đâu, dùng vào mục đích gì để chia thành các yếu tố chi phí sau: - Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị NVL chính, NVL phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ…sử dụng vào mục đích sản xuất - kinh doanh (trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
-Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ tiền công, phụ cấp tính theo lương, chi ăn ca, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ…… -Chi phí khấu hao tài sản cố định: bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ trong kì của tất cả các TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. -Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp bỏ ra chi trả cho các loại dịch vụ mua ngoài như: điện, nước, điện thoại…phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. -Chi phí bằng tiền khác: bao gồm toàn bộ các chi phí bằng tiền chi ra dùng cho sản xuất kinh doanh mà chưa phản ánh ở các chi phí kể trên. Theo cách phân loại này, doanh nghiệp xác định được kết cấu tỷ trọng của từng loại chi phí trong tổng chi phí sản xuất để lập thuyết minh báo cáo tài chính đồng thời phục vụ cho nhu cầu của công tác quản trị trong doanh nghiệp, làm cơ sở để lập mức dự toán cho kỳ sau.
18 Phân loại CPSX theo mục đích công cụ của chi phí. CPSX theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm gồm những khoản mục chi phí sau: -Chi phí NVL trực tiếp: Bao gồm các giá trị về NVL chính, NVL phụ, nhiên liệu.được sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.