Chương 1: Cơ sở lý luận về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần May Sông Hồng giai đoạn 2020 – 2022. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần May Sông Hồng giai đoạn 2023 – 2025. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về tài sản trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài sản trong doanh nghiệp Tài sản trong doanh nghiệp là khoản mục nằm bên trái bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. tài sản của doanh nghiệp chính là những bộ phận được hình thành trong quá trình đầu tư của doanh nghiệp cũng như tài sản là những của cải vật chất của doanh nghiệp được sử dụng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng. Tài sản là toàn bộ tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp, biểu thị cho những lợi ích mà doanh nghiệp thu được trong tương lai hoặc những tiềm năng phục vụ cho CCDC của doanh nghiệp.
Nói cách khác, tài sản là tất cả những thứ hữu hình hoặc vô hình gắn với lợi ích trong tương lai của đơn vị thỏa mãn các điều kiện sau: Thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát lâu dài của doanh nghiệp. Có giá trị thực sự đối với doanh nghiệp. Có giá phí xác định. (Nguồn: Trang 41 - Giáo trình Tài chính Doanh Nghiệp - Lê Thị Xuân) Nhìn tổng quát, tài sản có thể tồn tại dưới dạng vật chất hoặc phi vật chất, hữu hình hoặc vô hình – gọi chung là các nguồn lực, được xác định đối với một chủ thể nhất định và có khả năng mang lại lợi ích cho các chủ thể đó.
Tài sản trong doanh nghiệp là những nguồn tài nguyên mà doanh nghiệp sở hữu và sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh doanh và tạo ra giá trị cho công ty. Bất kỳ doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nào đều cần có các nguồn lực kinh tế, cơ sở vật chất để tạo điều kiện và phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Các nguồn lực, cơ sở vật chất này được gọi chung là tài sản của doanh nghiệp. Phân loại tài sản trong doanh nghiệp 1.
Theo chu trình sản xuất Tài sản cố định Tài sản cố định hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất, thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Đó là những tài sản có hình thái vật chất do Doanh Nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định do Bộ Tài chính quy định. Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị của nó và do Doanh Nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh 1 Thư viện ĐH Thăng Long doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê khác phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận Tài sản cố định vô hình do Bộ Tài chính quy định; tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh. Bao gồm các loại sau: Quyền sử dụng đất, chi phí thành lập Doanh Nghiệp, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí lợi thế thương mại.
Tài sản ngắn hạn Là một tài sản trong bảng cân đối trong đó dự kiến sẽ được bán hoặc sử dụng hết trong tương lai gần, thường là trong vòng một năm, hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản điển hình hiện nay bao gồm tiền, các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho, phần của các tài khoản trả trước đó sẽ được sử dụng trong vòng một năm và đầu tư ngắn hạn. Bao gồm: Tiền mặt ở ngân hàng, tiền trong tay người dân, con nợ, hàng tồn kho… và bất cứ thứ gì được sử dụng trong 12 tháng. Theo hình thái biểu hiện Tài sản vô hình Là những quyền tài sản thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định và thường chỉ gắn với một chủ thể nhất định, không thể chuyển giao.
Tuy nhiên, một số quyền tài sản có thể chuyển giao như thương hiệu hàng hoá hoặc ủy quyền cho chủ thể khác. Tài sản vô hình là những thứ không thể dùng giác quan để thấy được và không thể dùng đại lượng để tính. Nhưng trong quá trình chuyển giao có thể quy đổi thành tiền. Tùy từng thời điểm nhất định mà quyền tài sản có giá như thế nào.
Việc gây thiệt hại về tài sản vô hình của chủ thể sẽ phải bồi thường nhưng rất khó để xác định giá trị của nó. Ngoài những quy định trong luật còn việc xác định giá trị của tài sản vố hình không thể xác định được. Tài sản hữu hình Là những cái có thể dùng giác quan để nhận biết được hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được. Điều kiện để vật trở thành tài sản là vấn đề còn tranh cãi rất nhiều.
Bởi vì khi vật không thuộc về ai gọi là vật vô chủ không ai gọi là tài sản vô chủ cả. Khi nói đến tài sản hữu hình bắt buộc chúng ta phải có một số đặc tính riêng như: Thuộc sở hữu của ai đó; Có đặc tính vật lý; Có thể trao đổi đợc; Có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất; Là những thứ đã tồn tại, đang tồn tại và có thể có trong tương lai. Theo đặc điểm luân chuyển Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình hoạt động kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được 2 thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, các khoản phải thu, dự trữ hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.
Căn cứ vào các khoản mục trong bảng cân đối kế toán tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác. Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp tại ngân hàng. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế và trả nợ. Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất.
Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền. Đầu tư tài sản tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng,.) hoặc chứng khoán mua và bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) nhằm mục đích sinh lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm. Mục tiêu của doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao cho hiệu quả nhất. Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán có tính thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí.
Do đó trong quản trị tài chính người ta sử dụng chứng khoán có tính thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn. Các khoản phải thu ngắn hạn: Trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịu là một việc không thể thiếu. Các doanh nghiệp bán hàng song có thể không nhận được ngay tiền hàng lúc bán mà nhận sau một thời gian xác định mà hai bên thoả thuận hình thành nên khoản phải thu của doanh nghiệp. Việc cho các doanh nghiệp khác vay nợ như vậy là một hình thức tín dụng thương mại.
Với hình thức này có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có nhưng cũng không tránh khỏi những rủi ro trong CCDC của Doanh Nghiệp. Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu nhà quản lý không cân đối giữa các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn thậm chí dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán. Hàng tồn kho: Trong quá trình luận chuyển của vốn ngắn hạn phục vụ cho sản xuất, kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của Doanh Nghiệp. 3 Thư viện ĐH Thăng Long Hàng tồn kho có ba loại: nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm.
Các Doanh Nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ. Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác. (Nguồn: Trang 42 - Giáo trình Tài chính Doanh Nghiệp – Lê Thị Xuân) Tài sản dài hạn Tài sản dài hạn phản ánh tổng giá trị các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư và các tài sản dài hạn khác có đến thời điểm báo cáo, bao gồm: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác. Phải thu dài hạn: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn, các khoản phải thu dài hạn khác tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm (sau khi trừ đi dự phòng phải thu khó đòi).
Có ba loại phải thu dài hạn: Phải thu dài hạn của khách hàng: Phản ánh số tiền còn phải thu của khách hàng được xếp vào loại TSDH tại thời điểm báo cáo. Phải thu nội bộ dài hạn: Phản ánh số vốn kinh doanh đã giao cho các đơn vị trực thuộc và các khoản phải thu nội bộ tài sản khác. Phải thu dài hạn khác: Phản ánh các khoản phải thu khác từ các đối tượng có liên quan được xếp vào loại TSDH, và các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn.