CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản về hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Dựa vào quy định tại khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.” Theo Phạm Công Đoàn, Nguyễn Cảnh Lịch (2012): “Doanh nghiệp là một cộng đồng người liên kết với nhau để sản xuất ra của cải hoặc dịch vụ và cùng nhau thừa hưởng thành quả do việc sản xuất đó đem lại.” Cộng đồng người trong doanh nghiệp liên kết với nhau chủ yếu trên cơ sở lợi ích kinh tế. Con người trong doanh nghiệp được xem như là “con người kinh tế”.
Chủ doanh nghiệp muốn tối đa hoá lợi nhuận, người lao động vì tiền công mà hợp tác với chủ doanh nghiệp. Doanh nghiệp còn là phạm trù lịch sử, nó xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hoá: đầu tiên là các doanh nghiệp đơn giản, quy mô nhỏ, dần dần xuất hiện các loại hình doanh nghiệp phức tạp như công ty, tập đoàn đa quốc gia. Doanh nghiệp là một tổ chức sống giống như con người, có một chu trình sống (mang tính lý thuyết) và được thành lập bởi ý chí của các nhà sáng lập: phát triển và tiến tới độ trưởng thành, đôi khi hoạt động của nó sa sút dẫn đến suy thoái hoặc thậm chí bị phá sản. Như vậy, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khóa luận thì khái niệm được hiểu là: Doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh.
Khái niệm lao động và sử dụng lao động 1. Khái niệm lao động. Theo Ngô Tuấn Nghĩa, (2014), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc gia sự thật viết: “Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người” Hiện nay, pháp luật không định nghĩa lao động là gì. Việc đưa ra khái niệm lao động là gì có nhiều góc độ và cách giải thích khác nhau.
Lao động được hiểu là hoạt 7 động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Nói tóm lại, lao động có thể được hiểu là tập hợp các hành động có chủ ý, mục đích của con người, sử dụng công cụ, phương tiện lao động để tạo ra của cải, vật chất, các tài sản khác nhằm phục vụ cho đời sống, phát triển kinh tế, xã hội. Khái niệm sử dụng lao động Theo Nguyễn Văn Ngọc, (2012), việc làm hay sử dụng lao động là việc sử dụng lao động với tư cách đầu vào nhân tố trong quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
Trong kinh tế vĩ mô, khái niệm việc làm được dùng để chỉ tỷ lệ lao động có việc làm. Ngược với việc làm là tỷ lệ thất nghiệp. Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu sử dụng lao động là quá trình tổ chức và quản lý sức lao động trong sự kết hợp với các yếu tố sản xuất nhằm đạt được mục đích của quá trình đó. Đó chính là sự tác động có hệ thống các biện pháp khác nhau của người sử dụng lao động đến người lao động nhằm đạt mục tiêu chung của doanh nghiệp sao cho người lao động phát huy được hết khả năng và năng lực tiềm tàng của mình.
Khái niệm hiệu quả và hiệu quả sử dụng lao động 1. Khái niệm hiệu quả Theo Phạm Công Đoàn (2012), hiệu quả là là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã xác định với chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Để hoạt động, doanh nghiệp thương mại phải có các mục tiêu hành động của mình trong từng thời kỳ, đó có thể là các mục tiêu xã hội cũng có thể là các mục tiêu kinh tế của chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp luôn tìm cách để đạt các mục tiêu đó với chi phí thấp nhất. Đó là hiệu quả.
Hiệu quả của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận: Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. + Hiệu quả xã hội: Là đại lượng phản ánh mức độ thực hiện các mục tiêu xã hội của doanh nghiệp hoặc mức độ ảnh hưởng của các kết quả đạt được của doanh nghiệp đến xã hội và môi trường. Hiệu quả xã hội của các doanh nghiệp thương mại thường được biểu hiện qua mức độ thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện lao động, cải thiện và bảo vệ môi sinh v. 8 + Hiệu quả kinh tế: Là hiệu quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của hoạt động kinh doanh.
Nó mô tả mối tương quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được với chi phí đã bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Như vậy, trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu này, ta có thể hiểu: Hiệu quả là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để đạt được mục tiêu đó. Để hoạt động, doanh nghiệp phải có các mục tiêu hành động của mình trong từng thời kỳ, đó có thể là các mục tiêu xã hội, cũng có thể là các mục tiêu kinh tế của chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp luôn tìm cách để đạt các mục tiêu đó với chi phí thấp nhất. Khái niệm hiệu quả sử dụng lao động Theo Hoàng Văn Hải (2010), Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Nội dung của quản trị nhân lực gồm 4 yếu tố liên hệ chặt chẽ với nhau: Tuyển dụng nhân lực, Bố trí và sử dụng nhân lực, Đào tạo và phát triển nhân lực, Đãi ngộ nhân lực. Đây là mục tiêu hướng tới của doanh nghiệp. Điều này cũng chỉ rõ muốn quản trị tốt nguồn nhân lực hay sử dụng lao động một cách hiệu quả thì cần phải kết hợp các yếu tố này chặt chẽ, bổ sung lẫn nhau. Như vậy, Hiệu quả sử dụng lao động được hiểu là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp có quan hệ mật thiết với nhau: sự thành thạo và kĩ năng lao động của người lao động, của công nghệ, kĩ thuật; sự hợp lí của tổ chức sản xuất, quản lí kinh tế; chăm sóc xã hội đối với người lao động; phát huy cao độ vai trò chủ động, khả năng sáng tạo, lương tâm nghề nghiệp; ý thức trách nhiệm với nhiệm vụ, sự gắn bó mật thiết với doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng lao động là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng trong hoạt động kinh tế của mọi nghành kinh tế quốc dân. Nó phản ánh kết quả và trình độ sử dụng lao động của từng đơn vị, qua đó mà thấy được hiệu quả lao động chung của từng nghành và của toàn xã hội. Hiệu quả sử dụng lao động được hiểu là chỉ tiêu biểu hiện trình độ sử dụng lao động thông qua quan hệ so sánh giữa kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh với chi phí lao động để đạt được kết quả đó. Muốn sử dụng lao động có hiệu quả thì người quản lý phải tự biết đánh giá chính xác thực trạng tại doanh nghiệp mình, từ đó có những biện pháp chính sách đối với 9 người lao động thì mới nâng cao được năng suất lao động, việc sử dụng lao động thực sự có hiệu quả.
Khái niệm hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp. Từ những khái niệm về hiệu quả sử dụng lao động ở trên, ta có thể kết luận về hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp: Hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp là kết quả mang lại từ các mô hình, chính sách quản lí và sử dụng lao động của doanh nghiệp. Kết quả lao động đạt được là doanh thu lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể đạt được từ kinh doanh và việc tổ chức, quản lý lao động, có thể là khả năng tạo việc làm của mỗi doanh nghiệp, khả năng sử dụng lao động đúng ngành, đúng nghề đảm bảo dức khoẻ, đảm bảo an toàn cho người lao động, là mức độ chấp hành nghiêm chỉnh kỉ luật lao động, khả năng cải tiến kỹ thuật ở mỗi người lao động, đó là khả năng đảm bảo công bằng cho người lao động. Một số lý thuyết về hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp 1.
Bản chất hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp Bản chất của hiệu quả sử dụng lao động là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động sống. Nâng cao năng suất lao động Nâng cao năng suất lao động là giảm chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm có nghĩa là sự thay đổi trong cách thức lao động làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn. Năng suất lao động là một trong những nhân tố có vai trò quan trọng nhất góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp, vì vậy doanh nghiệp cần có những biện pháp để nâng cao năng suất lao động sao cho phù hợp và hiệu quả nhất. Tiết kiệm lao động sống Lao động sống là sự hoạt động trực tiếp của sức lao động, sự tiêu phí thể lực và trí lực có mục đích của con người, nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ có ích trong quá trình lao động.
Kết quả hoạt động của lao động sống được phân thành: lao động cần thiết tạo ra của cải nuôi sống bản thân người lao động và lao động thặng dư tạo ra của cải tăng thêm. Trong sản xuất hàng hoá, lao động sống là nguồn duy nhất tạo ra giá trị mới (bao gồm sức lao động và giá trị thặng dư), và cũng nhờ nó mà giá trị tư liệu sản xuất được bảo tồn và chuyển vào hàng hoá.