MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp, Xoài là một trong 5 ngành hàng chủ lực của tỉnh Đồng Tháp. Diện tích xoài của tỉnh hiện có 9.660,5 ha, với sản lượng hàng năm đạt 126. Mục tiêu của tỉnh là đến năm 2020 xoài trở thành ngành hàng trái cây xuất khẩu, có tính ổn định, bền vững.
Hiện nay, ngành Nông nghiệp tỉnh, huyện từng bước xây dựng mô hình GAP trên xoài. Đến năm 2018, tổng diện tích đạt chuẩn GlobalGAP 42,71 ha tập trung ở huyện Cao Lãnh và thành phố Cao Lãnh; tổng diện tích đạt chứng nhận VietGAP với diện tích 225,47 ha và cấp chứng nhận vùng sản xuất xoài đủ điều kiện an toàn cho 16,55 ha. Ngành hàng xoài đã liên kết tiêu thụ xoài được 1.663 tấn, trong đó liên kết tiêu thụ trong nước là 1.559 tấn (tập đoàn VinGruop, Công ty TNHH Nông sản sạch Đại Thuận Thiên và Công ty TNHH Nông sản Cao Lãnh, Công ty Long Uyên.) và tiêu thụ thị trường nước ngoài được 74 tấn (như Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Nga, Ý); trong năm 2018 Đồng Tháp xuất khẩu lô xoài đầu tiên sang Mỹ. Đã làm tăng giá trị sản xuất ngành hàng xoài năm 2018 theo giá so sánh năm 2010 đạt 1.630 tỷ đồng (tăng 65 tỷ đồng so với năm 2017) Hiện nay, Đồng Tháp có 2 hợp tác xã chuyên sản xuất xoài (Hợp tác xã Mỹ Xương; HTX Xoài Tân Thuận Tây), 28 tổ hợp tác chuyên trồng xoài (2018), và đã được Cục sở hữu Trí Tuệ cấp giấy chứng nhận hàng hóa đối với 2 thương hiệu “Xoài Cao Lãnh” và “Xoài Chu Cao Lãnh”.
Kết quả nghiên cứu về chuỗi giá trị xoài Đồng Tháp (Dương Ngọc Thành, 2014) cho thấy tỷ trọng lợi nhuận cho toàn chuỗi, nhà vườn chiếm ưu thế trung bình khoản 54% cho cả hai loại xoài Chu và xoài Hòa Lộc. Nghiên cứu này cũng nhận định việc rút ngắn kênh thị trường và liên kết nông dân sản xuất giúp giảm được chi phí và tăng lợi nhuận cho nông dân, doanh nghiệp. 1 Luan van Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chuỗi giá trị Xoài của tỉnh, theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Đồng Tháp (2018) thì trong chuỗi những hạn chế khuyết điểm sau: Mối liên kết doanh nghiệp làm đầu mối cung ứng vật tư đầu vào (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, bao trái, cây giống.) chưa tốt, nên chi phí đầu tư cho sản xuất xoài còn cao do nhà vườn mua vật tư theo giá bán lẻ. Hai giống xoài chủ lực của tỉnh (xoài chu, Hòa Lộc) đều có vỏ mỏng, vỏ dễ bị hư hại và bệnh hại tấn công sau thu hoạch, do đó tỷ lệ hư hao cao nếu vận chuyển đi xa và xử lý sau thu hoạch không tốt.
Do xoài được trồng lâu năm, cây cao, tán rộng, nhưng nông dân chưa mạnh dạn tạo tán nên chi phí chăm sóc (phun thuốc, tỉa cành, bao trái…) tăng, làm tăng giá thành sản xuất. Nông dân chưa áp dụng những kỹ thuật sau thu hoạch ngay trong qua trình sản xuất; nên tỷ lệ hư hao đối với sản phẩm xoài tươi còn khá cao. Quy mô sản xuất xoài của từng hộ còn nhỏ lẻ; việc tổ chức sản xuất hàng hóa theo quy mô lớn, chất lượng cao theo yêu cầu của thị trường nhìn chung còn hạn chế; tập quán sản xuất của nhà vườn (xử lý để thu hoạch trái) còn chạy theo giá thị trường. Diện tích sản xuất xoài được cấp chứng nhận theo tiêu chuẩn GAP chưa nhiều do chi phí chứng nhận cao.
Thời gian qua chưa có doanh nghiệp, cơ sở chế biến xoài (như nước uống từ xoài, làm bột xoài, xoài sấy, kẹo, mứt xoài, xoài muối chua….) để tạo ra nhiều sản phẩm từ trái xoài. Công nghệ sau thu hoạch, chế biến, bảo quản còn hạn chế. Chỉ có 01 doanh nghiệp tại tỉnh chuyên về kinh doanh xoài, nên khi phát triển mạnh ngành hàng xoài, chưa có nhiều doanh nghiệp để tìm đối tác mở rộng thị trường tiêu thụ… Trong khi đó vai trò của hợp tác xã trong tiêu thụ xoài còn hạn chế. Chưa có doanh nghiệp để xây dựng thương hiệu xoài, nên thiếu tiếp thị, thiếu quảng bá, giới thiệu sản phẩm xoài; đồng thời thiếu việc phân tích hàm lượng chất lượng các sản phẩm từ xoài để in trên bao bì, nhãn mác nhằm thông tin cho người tiêu dùng biết giá trị của sản phẩm xoài.
Thị trường tiêu thụ xoài trong nước còn rất lớn, nhưng hợp tác xã thiếu vốn, thiếu năng 2 Luan van lực quảng bá, tiếp thị, thiếu thông tin về thị trường nên chưa đáp ứng yêu cầu tiêu thụ xoài ở các địa phương. Ngày 24/10/2018, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Đồng Tháp đề ra kế hoạch số 231/KH- UBND về việc phát triển chuỗi ngành hàng nông sản chủ lực gắn với truy xuất nguồn gốc giai đoạn 2018-2020 cho các ngành hàng chủ lực của tỉnh, và thương hiệu Xoài Cao Lãnh. Dựa theo kế hoạch, từ 2018-2020, mục tiêu của kế hoạch đề ra là phải rà soát, xây dựng, hoàn thiện, phát triển chuỗi giá trị gắn truy xuất nguồn gốc đối với hợp tác xã xoài Mỹ Xương nói chung và thương hiệu Xoài nói riêng, từ đó, nhân rộng mô hình đối với các hợp tác xã và tổ hợp tác còn lại. Chính vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị Xoài tại Đồng Tháp” góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Tỉnh trong sản xuất xoài, đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, tạo tiền đề và cơ sở thực tiễn để xây dựng, hình thành các chuỗi sản xuất – cung ứng xoài an toàn.
Khái quát tình hình nghiên cứu. Việc phân tích chuỗi giá trị của ngành hàng nông sản nhằm xác định được các nhân tố mang lại lợi ích và các chi phí các tác nhân tham gia trong chuỗi. Từ đó việc phân tích có thể đề ra các giải pháp nhằm tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu những chi phí trong quá trình liên kết chuỗi mang lại. Do đó, việc phân tích chuỗi giá trị đã được nghiên cứu rộng rãi trên một số loại nông sản ở các địa phương khác nhau.
Năm 2015, (Võ Thị Thanh Lộc, Nguyễn Phú Son, Lâm Huôn, Trương Hồng Võ Tuấn Kiệt, Lê Trường Giang, Nguyễn Thị Thu An, Huỳnh Hữu Thọ, 2015) đã phân tích chuỗi giá trị ớt tại Đồng Tháp. Việc nghiên cứu dựa vào lý thuyết chuỗi giá trị của Kaplinsky & Morris (2001), phương pháp liên kết chuỗi giá trị của GTZ Eschborn (2007), nâng cao thị trường cho người nghèo (M4P, 2008) và sự tham gia của các tác nhân tham gia chuỗi. Mục tiêu nghiên cứu bao gồm đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ ớt tỉnh Đồng Tháp, phân tích chuỗi giá trị ớt và đề xuất các giải pháp nâng cấp 3 Luan van chuỗi giá trị ớt nhằm giúp các nhà hỗ trợ các cấp có đủ cơ sở xây dựng các chính sách và giải pháp phù hợp hơn để tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững chuỗi ngành hàng từ tập trung cải tạo giống, sử dụng phân hữu cơ và nghiên cứu nước sấy ớt sử dụng thay thuốc bảo vệ thực vật; Khâu sản xuất cần phát triển liên kết sản xuất qui mô lớn, nâng cao chất lượng và kết nối đầu ra; Khâu tiêu thụ cần tăng cường ớt cấp đông và sấy khô xuất khẩu chất lượng cao, giảm lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Năm 2017, (Phạm Thị Huyền, Đỗ Thị Phi Hoài, 2017) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách tài chính tới chuỗi giá trị thủy sản tại Việt Nam cho thấy xuất khẩu thủy sản là ngành có tiềm năng phát triển của Việt Nam nhưng để tiềm năng đó trở thành hiện thực, rất cần sự vào cuộc của các cơ quan quản lý thông qua hệ thống chính sách, đặc biệt là chính sách tài chính khuyến khích sự tham gia của cá nhân, tổ chức vào chuỗi giá trị thủy sản.
Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, vấn đề tiếp cận vốn luôn rất khó khăn, với nguyên nhân chủ yếu là tiêu chuẩn cho vay chưa phù hợp với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, quy trình phức tạp, các tổ chức tín dụng chưa muốn đầu tư vào lĩnh vực thủy sản do rủi ro cao và thiếu các văn bản hướng dẫn kịp thời. Một số giải pháp được đề xuất liên quan tới việc cải thiện cơ chế cho vay, lựa chọn mô hình chuỗi giá trị phù hợp với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ ở Việt Nam hay chính sách nhằm tăng cường hoạt động của chuỗi và quản lý chuỗi thông qua chính sách tài chính hy vọng sẽ giúp tăng cường hiệu quả hoạt động chuỗi, từ đó, khai thác được tiềm năng vốn có của ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Cũng trong năm 2017, nghiên cứu về hoạt động của thương lái trong chuỗi giá trị gạo xuất khẩu tại tỉnh Đồng Tháp (Nguyễn Hoàng Hải, Phạm Bảo Dương, 2017) phân tích các hoạt động và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của thương lái trong chuỗi giá trị gạo xuất khẩu tại tỉnh Đồng Tháp. Thương lái là tác nhân đặc biệt quan trọng trong việc thu mua lúa cho nông dân và cung ứng gạo cho doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thương lái thu mua tới 90% lúa từ người sản xuất và cung ứng gạo cho doanh nghiệp. Thương lái chịu nhiều rủi ro, hiệu quả hoạt động của thương lái chịu ảnh 4 Luan van hưởng mạnh bởi yếu tố thời tiết. Liên kết giữa thương lái với các tác nhân khác trong chuỗi yếu, thương lái có thu nhập trung bình 226 triệu đồng/năm cao hơn so với người sản xuất tuy nhiên thấp hơn nhiều so với các nhà máy, doanh nghiệp. Ban hành các cơ chế, chính sách khả thi, xây dựng các mô hình liên kết giữa người sản xuất với thương lái và doanh nghiệp, tăng cường chia sẻ thông tin là các giải pháp chủ yếu được đề xuất.
Đối với rau, (Lê Thị Minh Hằng, 2018) đã thực hiện nghiên cứu “Một số vấn đề trong chuỗi cung ứng rau an toàn ở đô thị Việt Nam − Kết quả từ phân tích chuỗi giá trị rau tại Đà Nẵng”. Trong nghiên cứu này, kĩ thuật phân tích chuỗi giá trị do Tổ chức Phát triển Quốc tế của Anh (DFID) công bố năm 2008 (Making Markets Work Better for the Poor - M4P & DFID, 2008) được sử dụng để phân tích định tính và định lượng chuỗi cung ứng rau.