Luận án TS: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu chuyên sâu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại TP.HCM. Luận án phân tích lý luận, thực tiễn xét xử và các giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Luật học

2024

208
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Đặc Điểm của Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm phổ biến nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn tài sản và niềm tin xã hội. Đây là hành vi sử dụng thủ đoạn lừa bịp để chiếm đoạt tài sản của người khác, với những đặc điểm nổi bật như sự chuẩn bị kỹ lưỡng, tính chất lén lút và mục đích vụ lợi. Hành vi phạm tội này không chỉ xâm phạm quyền sở hữu mà còn gây thiệt hại tâm lý cho nạn nhân. Theo số liệu thống kê từ 2013 đến 2023, tỷ lệ vụ án lừa đảo tại TPHCM luôn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số vụ án hình sự, đòi hỏi cộng đồng pháp lý phải chú trọng hơn trong việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật.

1.1. Định Nghĩa Pháp Luật về Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản

Theo Bộ Luật Hình Sự Việt Nam, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 190 là hành vi sử dụng thủ đoạn lừa gạt để chiếm đoạt hoặc cố gắng chiếm đoạt tài sản của người khác. Đây là hành vi có ý thức dân sự nhằm mục đích chiếm đoạt quyền sở hữu của người khác thông qua những thủ đoạn xảo quyệt. Đặc điểm cốt lõi là sự tồn tại của lừa bịp, chiếm đoạt và gây thiệt hại kinh tế cho nạn nhân.

1.2. Các Dấu Hiệu Cấu Thành Tội Danh tại TPHCM

Để xác định tội lừa đảo tại thành phố Hồ Chí Minh, cần phải chứng minh đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm: hành vi sử dụng thủ đoạn lừa, ý thức và mục đích chiếm đoạt tài sản, gây thiệt hại kinh tế. Trong thực tiễn xét xử tại TPHCM, việc chứng minh ý thức và mục đích của bị cáo thường là phần khó khăn nhất, đòi hỏi sự phân tích kỹ lưỡng các chứng cứ.

II. Thực Tiễn Áp Dụng Pháp Luật tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại TPHCM từ năm 2013 đến 2023 cho thấy một bức tranh phức tạp với nhiều thách thức. Dữ liệu thống kê cho thấy số vụ án lừa đảo tại thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ đáng kể, tuy nhiên tỷ lệ khởi tố và xét xử vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân chính bao gồm sự phức tạp của các thủ đoạn lừa đảo, khó khăn trong xác định thời điểm hành vi cấu thành tội và chứng minh ý thức chi phối của người phạm tội. Cơ quan điều tra và tòa án phải đối mặt với những vụ án lừa đảo tinh vi ngày càng gia tăng, đặc biệt là các vụ lừa đảo qua mạng Internet.

2.1. Tình Hình Xét Xử Các Vụ Lừa Đảo tại TPHCM

Theo dữ liệu từ Tòa Án Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh, số vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xét xử từ 2013-2023 cho thấy xu hướng biến động. Tỷ lệ phát hiện và xử lý tội phạm này đạt khoảng 20-25% trong tổng số vụ án về tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, còn rất nhiều vụ án không được khởi tố do thiếu bằng chứng đủ mạnh chứng minh ý thức chiếm đoạt.

2.2. Những Khó Khăn trong Chứng Minh Tội Danh

Thực tiễn xét xử tại TPHCM cho thấy những khó khăn chủ yếu trong việc chứng minh ý thức chiếm đoạt tài sản của bị cáo. Nhiều vụ án giữa thừa nhận hành vi nhưng lại phủ nhận ý thức chiếm đoạt, dẫn đến khó khăn trong định tội pháp lý. Ngoài ra, xác định thời điểm hành vi cấu thành tội lừa đảo cũng là vấn đề phức tạp trong thực tiễn.

III. Phân Biệt Tội Lừa Đảo với Các Tội Danh Liên Quan

Việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội danh khác có liên quan là vô cùng quan trọng trong áp dụng pháp luật hình sự. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều trường hợp xảy ra nhầm lẫn giữa tội lừa đảo và các tội như tham ô, chiếm dụng tài sản, hoặc lợi dụng chức vụ quyền hạn. Sự khác biệt cốt lõi nằm ở chủ thể phạm tội, phương thức hành viđối tượng bị xâm phạm. Tội lừa đảo thường được thực hiện bởi những người không có chức vụ, quyền hạn đặc biệt, trong khi tham ô hay chiếm dụng liên quan đến những người có vị trí, quyền hạn nhất định. Việc phân biệt chính xác giúp đảm bảo áp dụng pháp luật công bằng và đúng pháp lý.

3.1. Phân Biệt Lừa Đảo và Tham Ô Tài Sản

Tội tham ô tài sản chỉ có thể thực hiện bởi những người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, trong khi tội lừa đảo không đòi hỏi điều kiện này. Cơ sở phân biệt quan trọng nhất là chủ thể phạm tội. Trong thực tiễn xét xử tại TPHCM, việc xác định chủ thể phạm tội đúng pháp lý rất quan trọng để tránh nhầm lẫn tội danh.

3.2. Phân Biệt Lừa Đảo và Chiếm Dụng Tài Sản

Chiếm dụng tài sản thường liên quan đến những người được giao quản lý tài sản của người khác, còn lừa đảo không có mối quan hệ như vậy. Hành vi lừa đảo đặc trưng bởi việc sử dụng thủ đoạn lừa gạt để chiếm đoạt tài sản, trong khi chiếm dụng là việc chiếm giữ tài sản không phải là của mình mà không có thủ đoạn lừa bịp.

IV. Giải Pháp Bảo Đảm Áp Dụng Có Hiệu Quả Pháp Luật

Để áp dụng hiệu quả pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh, cần triển khai một hệ thống giải pháp toàn diện. Trước tiên, phải hoàn thiện khuôn khổ pháp luật để phù hợp với các thủ đoạn lừa đảo hiện đại, đặc biệt là lừa đảo qua mạng Internet. Thứ hai, cần nâng cao chất lượng điều trakhả năng thu thập bằng chứi của cơ quan điều tra, giúp chứng minh đầy đủ các yếu tố cấu thành tội. Thứ ba, phải tăng cường đào tạo chuyên môn cho các cán bộ tố tụng, đặc biệt về những dạng tội phạm mới. Cuối cùng, cần phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong phát hiện, điều tra và xét xử các vụ lừa đảo, nhằm tăng tỷ lệ phát hiện và xử lý tội phạm.

4.1. Hoàn Thiện Quy Định Pháp Luật Hình Sự

Bộ Luật Hình Sự cần được sửa đổi, bổ sung để xác định rõ ràng hơn các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo, đặc biệt trong các trường hợp lừa đảo trên không gian mạng. Cần bổ sung quy định cụ thể về cách xác định ý thức chiếm đoạt, thời điểm cấu thành tộimức độ trách nhiệm hình sự trong các vụ án lừa đảo phức tạp. Pháp luật hình sự phải được điều chỉnh linh hoạt để bắt kịp với tình hình phạm tội thực tế.

4.2. Nâng Cao Chất Lượng Điều Tra và Xét Xử

Các cơ quan điều tra tại TPHCM cần đầu tư công nghệ hiện đại để phát hiện và thu thập bằng chứng trong các vụ lừa đảo tinh vi. Phải tăng cường đào tạo cho cán bộ điều tra về kỹ năng phỏng vấn, phân tích bằng chứisử dụng công nghệ trong điều tra. Các tòa án cần áp dụng đúng quy định pháp luậtbảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo trong xét xử công khai, công bằng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/12/2025
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Vấn đề phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng luôn mang tính thời sự, vì vậy đã và đang được nhiều nhà luật học nước ta quan tâm nghiên cứu. Kết quả là, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong nước về hoặc có liên quan đến những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như về các giải pháp bảo đảm áp dụng có hiệu quả hoặc nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật hình sự đối với tội nói trên, được công bố. Quá trình thực hiện đề tài luận án, nghiên cứu sinh tham khảo các tài liệu trong nước ở các cấp độ (khoa học) khác nhau để từ đó nhận diện và đánh giá những vấn đề gì đã được nghiên cứu? nghiên cứu đến đâu? những vấn đề gì chưa được nghiên cứu? cần nghiên cứu mới.Trên cơ sở tổng thể các công trình nghiên cứu được tham khảo, nghiên cứu sinh tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước như sau: 1.1 Những công trình có đề cập nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trước hết cần nhấn mạnh rằng, ở Việt Nam, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tương đối sớm trong lịch sử pháp luật hình sự. Hành vi phạm tội này bị xử lý trên thực tế cũng tương đối nhiều so với các loại hành vi phạm tội khác.

Đó cũng là một trong những lý do giải thích vì sao tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được các nhà luật học nước ta chú trọng nghiên cứu từ rất sớm và vì sao có khá nhiều công trình khoa học về hoặc có liên quan đến tội này đã được công bố. Trong số những công trình khoa học như vậy có thể kể đến: - Luận án tiến sĩ “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu” của tác giả Nguyễn Ngọc Chí được thực hiện tại Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật vào năm 2001. Công trình này nghiên cứu về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu, trong đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản một cách toàn diện, có hệ thống trên hai bình diện: tội phạm học và luật hình sự. Luận án đã nhận xét, đánh giá về đặc điểm tình hình các tội xâm phạm sở hữu, phân tích một cách 9 có hệ thống chính sách hình sự, nguyên tắc xử lý và các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội này.

Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của luận án rộng, bao gồm toàn bộ các tội xâm phạm sở hữu nên dung lượng nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tương đối hạn chế. Bên cạnh thành công của luận án để tác giả có thể tham khảo thì do luận án này hoàn thành cách đây đã khá lâu (từ năm 2001), nên có một số quan điểm, cách tiếp cận trong luận án đến nay đã không còn phù hợp; có những sự kiện, vấn đề mới phát sinh trên các phương diện học thuật và thực tế từ đó đến nay cũng cần được cập nhật để phù hợp hơn. - Luận án tiến sĩ luật học “Các tội xâm phạm sở hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” đã được tác giả Nguyễn Văn Thanh bảo vệ thành công vào năm 2016 tại Học viện Khoa học xã hội. Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm sở hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam, như khái niệm, dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm cụ thể thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu, phân biệt các tội phạm cụ thể thuộc chương này và phân tích lịch sử phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sở hữu.

Tuy nhiên, với phạm vi nghiên cứu rộng bao gồm tất cả các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương các tội xâm phạm sở hữu của BLHS, nội dung nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa thực sự đầy đủ và sâu sắc. Bên cạnh đó, trong quy định của BLHS năm 2015 (SĐ, BS 2017) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có khá nhiều điểm mới được sửa đổi, bổ sung, trong khi công trình khoa học của tác giả Nguyễn Văn Thanh được thực hiện trên cơ sở quy định của BLHS năm 1999 (SĐ, BS 2009), vì vậy, một số nội dung sẽ cần được cập nhật để phù hợp với quy định của BLHS hiện hành. - Luận văn thạc sĩ luật học “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang” của tác giả Trịnh Hồng Phương, đã bảo vệ thành công năm 2016 tại Học viện Khoa học xã hội. Trong luận văn này, tác giả Trịnh Hồng Phương có đề cập phân tích những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bao gồm: khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội danh khác có một số dấu hiệu tương đồng.

Với dung lượng của 10 một luận văn thạc sĩ luật học, các vấn đề lý luận được đề cập phân tích chưa thực sự đầy đủ, toàn diện. Mặt khác, đề tài luận văn được nghiên cứu trên cơ sở quy định của BLHS năm 1999 (SĐ, BS 2009) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trong khi như đã nhấn mạnh, quy định về tội danh này trong BLHS năm 2015 (SĐ, BS 2017) đã có một số thay đổi nên cũng cần được bổ sung, cập nhật cho phù hợp. - Luận văn thạc sĩ luật học “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thùy Liên, đã được tác giả này bảo vệ thành công vào năm 2016 tại Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Trong luận văn này, tác giả Nguyễn Thị Thùy Liên cũng đề cập phân tích các vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm, cơ sở chính trị - pháp lý của việc quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự, các dấu hiệu pháp lý và phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội danh khác có dấu hiệu tương đồng.

Tuy nhiên, luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thùy Liên chưa đề cập đến khía cạnh lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như chưa đề cập đến quy định của pháp luật hình sự của các nước trên thế giới về tội danh này. Và cũng như nhiều công trình khoa học khác, đề tài của luận văn thạc sĩ luật học này được thực hiện trên cơ sở quy định của BLHS năm 1999 (SĐ, BS 2009) nên có một số vấn đề chưa phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự hiện hành, vì vậy, cần có sự cập nhật, bổ sung. - Luận văn thạc sĩ luật học “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do tác giả Vũ Thị Kim Oanh thực hiện và đã bảo vệ thành công tại Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội năm 2022. Trong luận văn này, tác giả Vũ Thị Kim Oanh chủ yếu phân tích lý luận và thực trạng công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Bởi vậy, nội dung nghiên cứu lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được đề cập tương đối hạn chế ở một mục nhỏ là nhận thức về vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong đó, tác giả đã phân tích khái niệm tội phạm, khái niệm lừa đảo và từ đó đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bên cạnh đó, luận văn cũng phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, trong một luận văn mà tác giả của nó chủ yếu đi sâu vào công tác thực hành quyền công 11 tố trong giai đoạn điều tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên nội dung lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa thực sự đầy đủ và sâu sắc.

- Luận văn thạc sĩ luật học “Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” của tác giả Lê Quang Ninh, được bảo vệ thành công vào năm 2019 tại Học viện Khoa học xã hội. Mặc dù đề tài luận văn được nghiên cứu trên cơ sở quy định của BLHS năm 2015 (SĐ, BS 2017) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng tác giả của nó chỉ tập trung nghiên cứu một nội dung chuyên sâu là định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên lý luận được phân tích là khái niệm, ý nghĩa của định tội danh nói chung; lý luận về định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cơ sở pháp lý của định tội danh tội này theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. Vì vậy, lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa được luận văn đề cập phân tích sâu. - Luận văn thạc sĩ “Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tế số liệu từ địa bàn tỉnh Đắk Lắk)” do tác giả Trương Thị Đông thực hiện, bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học Quốc gia Hà Nội cũng có nội dung nghiên cứu với nhiều điểm tương đồng với công trình vừa được đề cập trên đây.

Tuy nhiên, công trình này được nghiên cứu trên cơ sở quy định của BLHS năm 1999 (SĐ, BS 2009) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên một số nội dung không còn phù hợp với pháp luật hình sự hiện hành. - Luận văn thạc sĩ “Dấu hiệu định tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam” của tác giả Thái Xuân Trinh, được thực hiện và bảo vệ năm 2019 tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài luận văn này được nghiên cứu trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (SĐ, BS 2017) nên đã cập nhật quy định pháp luật hiện hành một cách tương đối đầy đủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ