Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI CỐ Ý CÔNG BỐ THÔNG TIN SAI LỆCH HOẶC CHE GIẤU SỰ THẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG KHOÁN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỨNG KHOÁN Thuật ngữ chứng khoán được hiểu theo những nghĩa khác nhau tùy theo mục đích khi điều chỉnh loại tài sản đặc biệt này. Chứng khoán lần đầu tiên xuất hiện tại Bỉ vào giữa thế kỷ XV, theo đó, "các thỏa thuận được xác lập cho các giao dịch thực hiện ngay và các giao dịch được thực hiện ngay và các giao dịch được thực hiện sau khoảng thời gian nhất định" [41, tr. Black Law’s Dictionary lại cho rằng "chứng khoán là công cụ chứng minh quyền sở hữu công ty, quyền chủ nợ với công ty hoặc chính phủ hoặc các quyền khác của người nắm giữ" [52, tr.
Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi tắt là Luật Chứng khoán) quy định: Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; c) Hợp đồng góp vốn đầu tư; d) Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định [31, tr. 12 z Chứng khoán thường mang các đặc điểm sau: Tính sinh lời: người phát hành ra chúng phải trả cho người sở hữu chứng khoán khoản lợi tức trong tương lai để nhận về mình quyền sử dụng vốn. Tính sinh lời của chứng khoán là động lực thúc đẩy người đầu tư mua chứng khoán và cũng là tiền đề xuất hiện chứng khoán.
Tính sinh lời còn xuất hiện khi người nắm giữ chứng khoán giao dịch chứng khoán như loại tài sản được phép. Tính thanh khoản là khả năng cho phép người sở hữu chứng khoán có thể bán chứng khoán để nhận được khoản tiền nhất định. Tính thanh khoản tạo cho người sở hữu chứng khoán chuyển đổi dạng tài sản chứng khoán sang tiền thông qua giao dịch tại thị trường thứ cấp hoặc thông qua nghiệp vụ ngân hàng. Tính thanh khoản tạo ra sự hấp dẫn đối với người đầu tư, thỏa mãn nhu cầu của họ đồng thời cũng hạn chế rủi ro làm giảm sút giá trị tiền tệ của chứng khoán.
Tính thanh khoản của chứng khoán phụ thuộc vào uy tín của chủ thể phát hành, vào chuyển đổi và sự biến động của thị trường. Tính rủi ro của chứng khoán, thể hiện ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn, đó là "lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai" thì cả quãng thời gian đó chứa đựng rủi ro. Mức độ rủi ro lớn hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn cùng các cam kết khác chính,… Mức độ rủi ro của chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với tính sinh lời và tính thanh khoản của chứng khoán. Căn cứ vào quyền của người sở hữu chứng khoán đối với người phát hành, chứng khoán vốn và chứng khoán nợ.
Chứng khoán vốn là loại chứng khoán xác nhận sự góp vốn và quyền liên quan đến phần vốn góp của chủ sở hữu chứng khoán đối với đối tượng phát hành ra nó. Đặc điểm của loại chứng khoán này có đặc điểm nhà đầu tư không xác định được thời gian thu hồi vốn, mức thu nhập từ việc đầu tư nhưng lại có cơ hội tham gia vào kiểm soát hoặc trực tiếp kinh doanh phần vốn đã thu hút. Chứng khoán vốn có hai dạng cơ bản: cổ phiếu và chứng chỉ 13 z quỹ đầu tư. Ngoài ra còn có chứng khoán phái sinh từ loại chứng khoán vốn như chứng quyền.
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành (Khoản 2 Điều 6 Luật Chứng khoán). Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng (Khoản 4 Điều 6 Luật Chứng khoán). Chứng chỉ khoán nợ là loại chứng khoán rất phổ biến, tạo ra sự ổn định tương đối trong giao dịch trên thị trường là trái phiếu. Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành (Khoản 3 Điều 6 Luật Chứng khoán).
Bên cạnh đó, cũng cần phải làm rõ khái niệm về thị trường chứng khoán. Về khái niệm thị trường chứng khoán hiện nay cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, thị trường chứng khoán và thị trường vốn là một, chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: Thị trường tư bản (Capital Market). Nếu xét về mặt nội dung, thì thị trường vốn biểu hiện các quan hệ bản chất bên trong của quá trình mua bán các chứng khoán. Thị trường chứng khoán là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể.
Do đó, các thị trường này không thể phân biệt, tách rời nhau mà thống nhất và cùng phản ánh các quan hệ bên trong và bên ngoài của thị trường tư bản. Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng: Thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một. Như vậy, theo quan điểm này, thị trường chứng khoán và thị trường vốn là khác nhau, trong đó thị trường chứng khoán chỉ giao dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị 14 z trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của thị trường chứng khoán.
Quan điểm thứ ba, dựa trên những gì quan sát được tại đa số các Sở giao dịch chứng khoán lại cho rằng "thị trường chứng khoán là thị trường cổ phiếu", hay là nơi mua bán các phiếu cổ phần được các công ty phát hành ra để huy động vốn. Theo quan điểm này, thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi thị trường mua bán các công cụ tài chính mang lại quyền tham gia sở hữu. Các quan điểm trên đều được khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn và trong từng điều kiện lịch sử nhất định. Tuy nhiên, chúng tôi quan niệm đầy đủ và rõ ràng, phù hợp với sự phát triển chung của thị trường chứng khoán hiện nay đó là: thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán.
Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành hoặc quyền sở hữu. Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng. Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp (Primary Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại Sở giao dịch (Stock Exchange) hay thị trường chứng khoán phi tập trung (Over The Counter Market), ở thị trường giao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn (Future Market). Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, và như vậy, thực chất đây chính là quá trình vận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
Thị trường chứng khoán không giống với thị trường các hàng hoá thông thường khác vì hàng hoá của thị trường chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản. Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Như vậy, có thể nói, bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá.
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT QUY ĐỊNH CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨNG KHOÁN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm tội phạm về chứng khoán Có thể nói, chứng khoán và thị trường chứng khoán đã xuất hiện, tồn tại và phát triển ở Việt Nam như một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường. Bắt đầu từ năm 2000 và khởi sắc mạnh mẽ từ năm 2005 đến nay. Chủ trương phát triển thị trường chứng khoán (kênh huy động vốn đầu tư và lưu thông giữa các nguồn vốn đầu tư) đã góp phần làm cho nền kinh tế nước ta có những chuyển biến tích cực nhất định, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Bên cạnh mặt mạnh này, xuất hiện càng nhiều các vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường đầu tư và lưu thông vốn, tác động tiêu cực đến trật tự quản lý kinh tế và nền kinh tế quốc dân. Trong báo cáo tổng kết công tác năm của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và chức vụ đều nhấn mạnh và khẳng định từ năm 2005 đến nay vi phạm trên lĩnh vực chứng khoán có dấu hiệu gia tăng. Hành vi vi phạm chủ yếu là các doanh nghiệp niêm yết tăng vốn nhưng không báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, lừa đảo bán cổ phiếu trên thị trường OTC, sử dụng vốn nhà nước, vốn của cổ đông để đầu tư chứng khoán nhưng chưa được sự đồng ý của Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông, làm giả chứng khoán. Đặc biệt, trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều doanh nghiệp, công ty niêm yết không tuân thủ quy định của pháp luật về việc công bố thông tin, thậm chí Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phạt không kịp, bỏ sót hoặc vì lý do gì đó không phạt khiến doanh nghiệp kinh nhờn và nhà đầu tư lãnh đủ.
Hàng loạt vụ việc liên quan đến tình trạng công bố thông tin sai lệch, thiếu, nhiễu thông tin… về tình hình tài chính, hiệu quả kinh doanh của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán trong thời gian gần đây, đã khiến cho nhiều nhà đầu tư chán nản, rời bỏ thị trường, làm cho thị trường chứng khoán trở nên ảm đạm. 16 z Có thể nói sai phạm trong lĩnh vực chứng khoán ngày càng phổ biến và nghiêm trọng.