Chương 1: Những vấn đề lý luận về chào bán chứng khoán riêng lẻ và pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ Chương 2: Thực trạng pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ của công ty cổ phần ở Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ của công ty cổ phần ở Việt Nam 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RIÊNG LẺ VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RIÊNG LẺ 1. Những vấn đề lý luận về chào bán chứng khoán riêng lẻ 1. Khái niệm chào bán chứng khoán riêng lẻ Chào bán chứng khoán là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán.
Chủ thể chào bán chứng khoán rất đa dạng, có thể là Chính phủ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp. Các chứng khoán thường được chào bán theo hai phương thức, đó là CBCKRL và chào bán chứng khoán ra công chúng. Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc bán chứng khoán cho một số lượng lớn công chúng đầu tư, trong đó một số lượng chứng khoán phải được phân phối cho các nhà đầu tư nhỏ, khối lượng phát hành phải đạt một tỷ lệ nhất định. Các chứng khoán chào bán ra công chúng được niêm yết và giao dịch trên TTCK tập trung.
Các công ty chào bán chứng khoán ra công chúng có lợi thế trong việc quảng bá hình ảnh, tên tuổi và mặc nhiên được coi là có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động kinh doanh ổn định. Đây là lợi thế lớn cho công ty khi ký kết hợp đồng, tìm kiếm bạn hàng. CBCKRL là việc chào bán chứng khoán trong phạm vi một số nhà đầu tư nhất định, thông thường là những nhà đầu tư có tổ chức, ví dụ: các công ty bảo hiểm nhân thọ, các quỹ hưu trí, các công ty đầu tư chứng khoán và các quỹ tín thác đầu tư. Căn cứ vào loại chứng khoán được chào bán, có thể chia thành hai loại CBCKRL là chào bán cổ phiếu riêng lẻ và chào bán trái phiếu riêng lẻ.
Thuật ngữ “chào bán cổ phần riêng lẻ” được đề cập lần đầu tiên tại Khoản 6 Điều 87 Luật Doanh nghiệp 2005 với quy định “Chính phủ quy định hướng dẫn việc chào bán cổ phần riêng lẻ” mà chưa có định nghĩa chính thức như thế nào là chào bán cổ phần riêng lẻ. Đến Nghị định số 01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010 của Chính Phủ (Nghị định 01/2010/NĐ-CP) về chào bán cổ phần riêng lẻ thì khái niệm chào bán cổ phần riêng lẻ mới được định nghĩa như sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Chào bán cổ phần riêng lẻ là việc chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau: (i) Các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; (ii) Dưới 100 nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Nghị định 01/2010/NĐ-CP lần đầu tiên cụ thể hóa các quy định về chào bán cổ phiếu riêng lẻ - một hình thức huy động vốn phổ biến, chủ yếu của các CTCP. Sau một thời gian áp dụng Nghị định 01/2010/NĐ-CP trên thực tế, văn bản này đã bộc lộ một số bất cập, vướng mắc, do vậy Nghị định 01/2010/NĐ-CP chỉ tồn tại một thời gian ngắn và đến nay đã được thay thế bằng Nghị định số 58/2012/NĐ-CP do Chính Phủ ban hành ngày 20/7/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán (Nghị định 58/2012/NĐ-CP).
Tuy nhiên, Nghị định 58/2012/NĐ-CP không quy định khái niệm chào bán cổ phiếu riêng lẻ mà chỉ quy định về các vấn đề cơ bản của chào bán cổ phiếu riêng lẻ như điều kiện chào bán, thủ tục và hồ sơ chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Quy định về “chào bán trái phiếu riêng lẻ” lại được đề cập rõ ràng và cụ thể tại Nghị định số 90/2011/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14/10/2011 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (Nghị định 90/2011/NĐ-CP), theo đó “Phát hành trái phiếu riêng lẻ là phát hành trái phiếu cho dưới một trăm (100) nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc internet.” Từ hai khái niệm về chào bán cổ phiếu riêng lẻ và chào bán trái phiếu riêng lẻ nêu trên cho thấy, các nhà làm luật đã thống nhất quan điểm chung trong quy định về CBCKRL, đó là: giới hạn số lượng nhà đầu tư (dưới 100 nhà đầu tư) và không được sử dụng phương tiện thông tin đại chúng để quảng cáo cho việc chào bán chứng khoán. Đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán số 62/2010/QH12 được Quốc Hội thông qua (Luật số 62/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010), khái niệm CBCKRL lần đầu tiên được quy định trong hệ thống 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp luật về chứng khoán và TTCK của Việt Nam, theo đó “Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc tổ chức chào bán chứng khoán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet” (Điều 1 Luật số 62/2010/QH12). Như vậy, hoạt động CBCKRL có những điểm khác với hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng; cụ thể là: Thứ nhất, CBCKRL giới hạn số lượng nhà đầu tư là đối tượng của việc chào bán chứng khoán hướng tới, các chủ thể CBCKRL chỉ được chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.
Còn đối với chào bán chứng khoán ra công chúng thì không hạn chế số lượng nhà đầu tư tối đa nhưng tối thiểu phải là 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Như vậy, từ khái niệm của hai phương thức chào bán chứng khoán đã cho thấy rõ sự khác biệt về quy mô chào bán chứng khoán. Từ đó có thể hình dung được các quy định, thủ tục liên quan đến hai hình thức này sẽ rất khác nhau. Thứ hai, CBCKRL không được sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet, không được quảng cáo, mời chào trong khi chào bán ra công chúng lại phải thông qua phương tin thông tin đại chúng (kể cả qua Internet).
Điều này cho thấy mức độ phổ biến, rộng rãi của phương thức chào bán ra công chúng so với phạm vi chào bán, số vốn huy động và tính đại chúng của hoạt động CBCKRL. Đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ Thứ nhất, khác với chào bán chứng khoán ra công chúng, CBCKRL chỉ được tiến hành trên phạm vi hẹp nhằm phân phối chứng khoán cho số ít nhà đầu tư chuyên nghiệp hoặc số ít nhà đầu tư cá nhân đặc biệt. Đại đa số các nhà đầu tư mua chứng khoán trong trường hợp này đều là những người có kiến thức chuyên sâu về chứng khoán, có khả năng tự phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh và tình hình tài chính của tổ chức phát hành, cũng là tự đánh giá được giá trị của chứng khoán đang chào bán. Như vậy, yêu cầu bảo vệ nhà đầu tư trong 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CBCKRL và chào bán chứng khoán ra công chúng rất khác nhau.
Vì lý do này, ở hầu hết các quốc gia, CBCKRL và chào bán chứng khoán ra công chúng được điều chỉnh bởi những quy chế pháp lý riêng. Pháp luật các nước quy định khác nhau về số lượng nhà đầu tư tham gia tối thiểu được chào bán trong mỗi đợt phát hành riêng lẻ. Tại Mỹ và Nhật Bản nếu phát hành cho dưới 200 nhà đầu tư được coi là chào bán riêng lẻ; tại Hàn Quốc, Thái Lan, Indonexia nếu chào bán cho thấp hơn 50 nhà đầu tư là phát hành riêng lẻ.62] Thứ hai, ở các nước theo hệ thống Luật Dân sự (Civil law), hoạt động CBCKRL do Luật chứng khoán và kinh doanh chứng khoán điều chỉnh, còn ở các nước theo hệ thống Luật chung (Common law), hoạt động này chủ yếu do Luật Công ty điều chỉnh. Ở Việt Nam, hoạt động này do nhiều văn bản pháp luật khác nhau quy định tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh.
Đó là Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán, Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành, ngoài ra có các văn bản điều chỉnh chuyên biệt như các Nghị định của Chính Phủ về cổ phần hoá, phát hành trái phiếu, chuyển đổi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành CTCP. Thứ ba, hoạt động CBCKRL thường gắn với việc thành lập CTCP và quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp. Khi thành lập CTCP, các cổ đông sáng lập tiến hành chào bán cổ phần riêng lẻ để huy động vốn nhằm góp đủ số vốn điều lệ đã đăng ký. Các công ty Nhà nước tiến hành cổ phần hoá (CPH) có thể lựa chọn phương thức CBCKRL.
Ngoài ra, khi CBCKRL, công ty có thể thực hiện một số mục đích khác như duy trì các quan hệ kinh doanh (khách hàng lâu năm, nhà cung cấp, phân phối…), củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa công ty phát hành và các chủ thể đặc biệt như giám đốc công ty, cán bộ, nhân viên của công ty. Chi phí chào bán chứng khoán ra công chúng thường cao hơn chi phí CBCKRL, có thể lên đến 8- 10% so với tổng lượng vốn huy động. Thủ tục CBCKRL đơn giản hơn so với thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng. Vì vậy, đối với các doanh nghiệp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quy mô chưa thực sự lớn khi cần huy động vốn thường lựa chọn phương thức CBCKRL với mức chi phí thấp hơn.
Nghiên cứu đặc điểm của hoạt động CBCKRL không chỉ phân biệt các phương thức phát hành mà còn có ý nghĩa xác định phạm vi thị trường giao dịch cho các loại chứng khoán, công tác quản lý thị trường, bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư thực hiện tốt hơn. Vai trò của hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay Đối với TTCK, hoạt động CBCKRL cung cấp hàng hoá cho TTCK, tạo cơ sở cho các hoạt động trao đổi mua bán trên thị trường và kiểm chứng ban đầu về chất lượng chứng khoán sẽ được cung ứng. Đối với tổ chức phát hành, hoạt động CBCKRL là một kênh huy động vốn hiệu quả, linh hoạt, giúp các doanh nghiệp giải quyết khó khăn về vốn và không bị quá lệ thuộc vào vốn tín dụng ngân hàng.