Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH XÂY DỰNG 1. Thanh tra và thanh tra chuyên ngành xây dựng 1. Khái niệm thanh tra Thanh tra xuất phát từ gốc Latinh nghĩa bên trong có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ một sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của mỗi đối tượng nhất định. Là sự kiểm soát với đối tượng bị thanh tra trên cơ sở thẩm quyền (quyền hạn, nghĩa vụ) được giao nhằm đạt mục đích nhất định.
Thanh tra mang tính quyền lực, thông qua công tác thanh tra thường là phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định của pháp luật [56, tr. Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, thanh tra là: “Kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này thì thanh tra bao hàm việc nghĩa kiểm soát, xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định. Thanh tra là hoạt động của một chủ thể có thẩm quyền: Người làm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra và đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định [58, tr.
Theo từng giai đoạn lịch sử, khái niệm về thanh tra cũng được nhận thức khác nhau. Đó là sự phản ánh về mô hình tổ chức các cơ quan nhà nước; về sự kiểm soát đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Dưới góc độ lý thuyết, các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận khoa học. Từ Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, Luật Thanh tra năm 2004 và Luật Thanh tra năm 2010 cho thấy quan điểm về tổ chức và hoạt động thanh tra qua từng giai đoạn đã được quy định khác nhau.
Sự hạn chế trong nhận thức về vai trò của thanh tra trong quản lý nhà nước thể hiện qua việc tổ chức hệ thống các cơ 9 quan thanh tra có nhiều biến động khá lớn về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức trong thời gian qua. Dưới góc độ pháp lý, ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1980 sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là một chức năng của quản lý nhà nước. Đến Hiến pháp năm 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn qua các Điều 112, 115, 116 và 124. Trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, Điều 1 quy định: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước; là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa”.
Luật Thanh tra năm 2004 và Luật Thanh tra năm 2010 không nêu khái niệm thanh tra. Luật Thanh tra năm 2010 chỉ nêu khái niệm thanh tra nhà nước: “Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành (Khoản 1 Điều 3). Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao (Khoản 2 Điều 3).
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó (Khoản 3 Điều 3). Như vậy, điểm chung của các quan niệm trên về thanh tra đều xác định ở khía cạnh là một hoạt động. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng: bản thân thuật ngữ “thanh tra” có thể hiểu ở hai khía cạnh: ở khía cạnh là một danh từ - có nghĩa là tổ chức thanh tra; ở khía cạnh động từ - đó là hoạt động thanh tra. 10 Thiết nghĩ đây là quan điểm khá hợp lý.
Bởi lẽ tìm ra một quan niệm chung nhất cho thuật ngữ “thanh tra” dưới hai góc độ: Tổ chức thanh tra và hoạt động thanh tra là rất khó, thậm chí không cần thiết. Theo quan điểm của tác giả, để làm sáng tỏ khái niệm về thanh tra cần tiếp cận thuật ngữ này ở cả 2 khía cạnh: tổ chức và hoạt động [40, tr. Đặc điểm thanh tra Thanh tra có những đặc điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất, thanh tra mang tính quyền lực nhà nước Thanh tra là một chức năng quản lý nhà nước, thể hiện quyền lực nhà nước của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra có mối liên hệ chặt chẽ với tính quyền uy - phục tùng của quản lý nhà nước.
Vì vậy, thanh tra phải được nhà nước sử dụng như một công cụ có hiệu quả trong quá trình quản lý. Chủ thể tiến hành thanh tra luôn luôn là cơ quan nhà nước. Thanh tra luôn áp dụng quyền năng của nhà nước trong quá trình tiến hành hoạt động của mình và nhân danh nhà nước khi áp dụng các quyền năng đó. Thanh tra chỉ xuất hiện khi nhà nước ra đời trong lịch sử và nó sẽ tiêu vong cùng với sự tiêu vong của nhà nước.
Thứ hai, hoạt động thanh tra mang tính khách quan Về bản chất, thanh tra là xem xét, đánh giá một cách khách quan việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân nhằm đưa ra kết luận đúng, sai, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng và xử lý vi phạm góp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, hoạt động thanh tra phải mang tính khách quan. Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra. Đặc điểm này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy quản lý nhà 11 nước.
Ngoài những nhiệm vụ như những cơ quan quản lý nhà nước khác, tổ chức và hoạt động thanh tra có nhiệm vụ chủ yếu là xem xét, đánh giá một cách khách quan. Tính khách quan trong quá trình thanh tra được thể hiện trên các điểm sau: - Tự mình tổ chức các cuộc thanh tra trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đã được pháp luật quy định. - Khách quan trong quá trình thanh tra. Mặc dù bản thân hoạt động thanh tra thông qua con người, mang yếu tố chủ quan, nhưng yêu cầu đặt ra đối với hoạt động thanh tra là luôn phải tôn trọng sự thật khách quan.
- Ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật về kết quả của hoạt động thanh tra, chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra của mình. - Chỉ tuân theo pháp luật. Thứ ba, hoạt động thanh tra mang tính độc lập tương đối Hoạt động thanh tra cần có tính độc lập tương đối, bởi vì: Thanh tra và quản lý là hai hoạt động gắn bó mật thiết với nhau. Có thể coi thanh tra và quản lý là một, vì xét cho cùng thì thanh tra cũng chỉ là một chức năng quản lý nằm trong chu trình quản lý nhà nước.
Xem xét dưới góc độ chủ nghĩa duy vật lịch sử ta thấy rằng: Giữa quản lý và thanh tra có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó hoạt động quản lý đóng vai trò quyết định và thanh tra có tác dụng trở lại với hoạt động quản lý. Vì vậy, hoạt động thanh tra cần phải tương đối vì thanh tra và quản lý có mối quan hệ khăng khít không thể tách rời, nó bổ sung và hoàn thiện lẫn nhau. Hoạt động thanh tra cần phải độc lập vì thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần phải khách quan, trung thực và phi chính trị. Tính độc lập của hoạt động thanh tra chỉ là tương đối bởi vì, trong hoạt 12 động thanh tra, các cơ quan thanh tra phải căn cứ vào pháp luật và chính sách hiện hành, đồng thời phải xuất phát từ thực tế cuộc sống, đặt sự vật, hiện tượng, việc đang làm trong sự phát triển biện chứng với quan điểm khoa học, lịch sử cụ thể.
Tính độc lập thể hiện ở chỗ, các cơ quan thanh tra được phép tự mình tổ chức các cuộc thanh tra trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đã được pháp luật quy định. Trên cơ sở kết quả thanh tra, cơ quan thanh tra ra các kết luận thanh tra, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật về thanh tra, chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra của mình. Tính tương đối thể hiện ở hai mặt: Trong tổ chức thành lập, cơ quan thanh tra do cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp thành lập, người đứng đầu cơ quan thanh tra do người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp bổ nhiệm. Do vậy, cơ quan thanh tra là cơ quan chuyên môn của cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp, chịu sự kiểm tra, chỉ đạo của cơ quan hành chính nhà nước; chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp.
Thứ tư, hoạt động thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước Với tư cách là một chức năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước. Thanh tra là một phạm trù lịch sử, thanh tra gắn liền với vai trò của nhà nước trong kiểm soát nhà nước, kiểm soát xã hội. Lênin đã khẳng định: Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh tra là một chứ không phải là hai. Đây là nguyên tắc cơ bản đầu tiên và là cơ sở để xác định vị trí, vai trò của công tác thanh tra.
Theo quan điểm của Lênin thì khi đề cập đến công tác thanh tra không thể không đề cập đến vấn đề quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng. Nội hàm hoạt động thanh tra được đặt trong nội hàm khái niệm quản lý nhà nước [22, tr. 13 Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra thì quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (quy định về tổ chức, bộ máy, thẩm quyền, phương thức hoạt động.của thanh tra). Quản lý nhà nước và thanh tra có điểm chung là sử dụng quyền lực nhà nước để tác động lên đối tượng quản lý của mình.