Tổ Chức và Hoạt Động của Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay

Luận án tiến sĩ phân tích tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán theo pháp luật Việt Nam hiện nay, cung cấp cái nhìn sâu sắc và chi tiết.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

174
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.3. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

2.1. Lý luận chung về Quỹ đầu tư chứng khoán

2.2. Nội hàm, vai trò của pháp luật và các yếu tố tác động đến pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

3.1. Thực trạng pháp luật về tổ chức của QĐTCK

3.2. Thực trạng hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán trong thời gian qua

3.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK tại Việt Nam

3.4. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

4.1. Các có ảnh hưởng và định hướng hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán

4.3. Kết luận chương 4

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Tại Việt Nam

Thị trường chứng khoán (TTCK) tạo cơ hội sinh lời cho nhà đầu tư (NĐT). Sự đa dạng của TTCK cho phép NĐT lựa chọn phương thức đầu tư hiệu quả. Tuy nhiên, lợi nhuận luôn đi kèm rủi ro. Để giảm thiểu rủi ro, NĐT có thể tập trung vốn vào Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán (QĐTCK). Đây là hình thức đầu tư tập thể, mang lại lợi ích cho NĐT trên TTCK. QĐTCK giúp NĐT tham gia vào nhiều thị trường, đa dạng hóa danh mục và giảm thiểu rủi ro. Hoạt động đầu tư mang tính chuyên môn cao nhờ quản lý của các nhà đầu tư có tổ chức (Công ty Quản Lý Quỹ - CTQLQ). QĐTCK định hướng đầu tư và tiết kiệm chi phí giao dịch. Nghị định 48/1998/NĐ-CP là văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh trực tiếp về QĐTCK tại Việt Nam. QĐTCK đầu tiên ra đời năm 2004. Quá trình phát triển được điều chỉnh bởi Luật Chứng khoán 2006 và Luật sửa đổi 2010. Cơ sở pháp lý này tạo điều kiện cho sự ra đời của CTQLQ và QĐTCK.

1.1. Khái Niệm và Vai Trò của Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán

Theo International Finance Corporation (IFC), Quỹ đầu tư là phương tiện đầu tư tập thể, công cụ tài chính để tập hợp và quản lý tiền của nhiều NĐT. NĐT nhượng quyền kiểm soát cho nhà quản lý chuyên nghiệp để mua danh mục chứng khoán. Tác giả Nguyễn Thu Thủy cho rằng QĐTCK là tập hợp vốn do tổ chức và cá nhân góp lại để được quản lý chuyên nghiệp, tối đa hóa lợi nhuận. Trần Thị Thùy Linh định nghĩa Quỹ đầu tư là định chế tài chính trung gian phi ngân hàng, thu hút tiền nhàn rỗi để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ. Ngô Thanh Long xem QĐTCK là định chế tài chính trung gian hình thành từ vốn góp của NĐT, được quản lý bởi CTQLQ chuyên nghiệp, có danh mục đầu tư chủ yếu là chứng khoán giao dịch trên TTCK.

1.2. Lịch Sử Hình Thành và Phát Triển Quỹ Đầu Tư

Lịch sử hình thành Quỹ đầu tư bắt nguồn từ cuộc Cách mạng công nghiệp ở Anh thế kỷ 19. Tại Mỹ, Quỹ đầu tư chính thức thành lập năm 1924. Ở Việt Nam, QĐTCK đầu tiên ra đời năm 2004 theo Nghị định 48/1998/NĐ-CP. Các công trình khoa học và bài viết liên quan đến QĐTCK mới được quan tâm gần đây, chủ yếu là sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài viết trên tạp chí chuyên ngành luật, kinh tế.

II. Vấn Đề và Thách Thức Pháp Lý Quỹ Đầu Tư Hiện Nay

Mục đích điều chỉnh của pháp luật đối với QĐTCK là bảo vệ lợi ích chính đáng của NĐT trước khả năng bị lạm dụng. Điều này phù hợp với mục tiêu của IOSCO là “bảo vệ nhà đầu tư”. Tuy nhiên, sau hơn 12 năm thực thi Luật Chứng khoán, QĐTCK chưa thể hiện được vai trò tích cực trên TTCK, chưa là phương thức đầu tư tin cậy. QĐTCK chủ yếu được thành lập dưới dạng quỹ đóng, quỹ mở, quỹ ETF, quỹ đầu tư bất động sản. Chưa thành lập quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện và Công ty Đầu Tư Chứng Khoán (CTĐTCK). Số lượng QĐTCK còn ít (39). Hiệu quả hoạt động chưa cao. Số lượng NĐT tham gia không nhiều và giảm dần. Một số QĐTCK quy mô lớn đã chấm dứt hoạt động. Nguyên nhân là do hạn chế, bất cập của pháp luật về tổ chức và hoạt động, vấn đề quản trị và cơ chế hỗ trợ thực thi pháp luật.

2.1. Hạn Chế Trong Quy Định Pháp Luật Về Tổ Chức Quỹ

Pháp luật hiện hành còn nhiều hạn chế trong việc quy định về cơ cấu tổ chức của Quỹ đầu tư. Các quy định chưa thực sự rõ ràng và đầy đủ, gây khó khăn cho việc triển khai và quản lý quỹ. Điều này dẫn đến sự thiếu minh bạch và hiệu quả trong hoạt động của quỹ, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư.

2.2. Bất Cập Trong Hoạt Động Quản Lý và Giám Sát Quỹ

Hoạt động quản lý và giám sát Quỹ đầu tư còn nhiều bất cập. Cơ chế giám sát chưa đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho nhà đầu tư. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến tình trạng chồng chéo và bỏ sót trong công tác quản lý.

2.3. Thiếu Cơ Chế Bảo Vệ Nhà Đầu Tư Hiệu Quả

Cơ chế bảo vệ nhà đầu tư còn yếu. Khi xảy ra tranh chấp, việc giải quyết thường kéo dài và tốn kém. Nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn trong việc đòi lại quyền lợi chính đáng của mình. Điều này làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của Quỹ đầu tư.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán

Tiếp tục tái cơ cấu theo Quyết định 242/2019/QĐ-TTg, cần cơ cấu lại toàn diện để TTCK trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng. Nâng cao năng lực quản trị của CTQLQ. Đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa NĐT cá nhân và NĐT có tổ chức, thúc đẩy sự phát triển của các NĐT chuyên nghiệp (QĐTCK). Cần đánh giá các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK về tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp, hiệu quả. Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động của QĐTCK phục vụ quá trình tái cơ cấu.

3.1. Sửa Đổi và Bổ Sung Các Quy Định Pháp Luật Hiện Hành

Cần sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật hiện hành về Quỹ đầu tư để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng và đầy đủ. Các quy định cần tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, tăng cường trách nhiệm của các tổ chức quản lý quỹ và nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ.

3.2. Tăng Cường Quản Lý và Giám Sát Hoạt Động Quỹ Đầu Tư

Cần tăng cường quản lý và giám sát hoạt động của Quỹ đầu tư để đảm bảo tuân thủ pháp luật và ngăn chặn các hành vi vi phạm. Cơ chế giám sát cần được thiết kế chặt chẽ và hiệu quả, đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước.

3.3. Xây Dựng Cơ Chế Giải Quyết Tranh Chấp Hiệu Quả

Cần xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Cơ chế này cần đảm bảo tính nhanh chóng, công bằng và minh bạch, giúp nhà đầu tư dễ dàng đòi lại quyền lợi chính đáng của mình.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Hiệu Quả Hoạt Động Quỹ Đầu Tư

Luận án phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động của QĐTCKCTĐTCK. Đưa ra đánh giá về thực trạng pháp luật, tổng hợp và thống kê số liệu minh chứng cho thực tiễn hoạt động của các QĐTCK ở Việt Nam. Chỉ ra điểm hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của QĐTCK. Đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật vẫn còn hạn chế.

4.1. Phân Tích Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Loại Hình Quỹ

Cần phân tích hiệu quả hoạt động của các loại hình Quỹ đầu tư khác nhau để đánh giá mức độ thành công và những hạn chế của từng loại hình. Phân tích này sẽ giúp nhà đầu tư có cái nhìn tổng quan về thị trường và đưa ra quyết định đầu tư phù hợp.

4.2. Đánh Giá Rủi Ro và Lợi Nhuận Của Quỹ Đầu Tư

Cần đánh giá rủi ro và lợi nhuận của Quỹ đầu tư để giúp nhà đầu tư hiểu rõ về tiềm năng và rủi ro của khoản đầu tư. Đánh giá này cần dựa trên các yếu tố khách quan và khoa học, đảm bảo tính chính xác và tin cậy.

4.3. So Sánh Quỹ Đầu Tư Với Các Hình Thức Đầu Tư Khác

Cần so sánh Quỹ đầu tư với các hình thức đầu tư khác như cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản để giúp nhà đầu tư có cái nhìn tổng quan về ưu điểm và nhược điểm của từng hình thức. So sánh này sẽ giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư phù hợp với mục tiêu và khẩu vị rủi ro của mình.

V. Định Hướng và Giải Pháp Phát Triển Quỹ Đầu Tư Bền Vững

Luận án xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam như: Sự phát triển của nền kinh tế, hội nhập quốc tế về TTCK, sự phát triển của TTCK và NĐT tổ chức trên TTCK. Các định hướng hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK được xác định cụ thể dựa trên các quan điểm, chính sách của Nhà nước Việt Nam về việc cơ cấu lại TTCK nói chung và trước yêu cầu sửa đổi Luật Chứng khoán. Đưa ra các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK; các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về QĐTCK.

5.1. Nâng Cao Năng Lực Quản Trị và Điều Hành Quỹ

Cần nâng cao năng lực quản trị và điều hành Quỹ đầu tư để đảm bảo hoạt động hiệu quả và bền vững. Các tổ chức quản lý quỹ cần có đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn, đồng thời áp dụng các chuẩn mực quản trị quốc tế.

5.2. Tăng Cường Minh Bạch và Công Khai Thông Tin

Cần tăng cường minh bạch và công khai thông tin về Quỹ đầu tư để tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Các thông tin cần được công bố đầy đủ, chính xác và kịp thời, giúp nhà đầu tư có cái nhìn rõ ràng về hoạt động và hiệu quả của quỹ.

5.3. Phát Triển Sản Phẩm Quỹ Đầu Tư Đa Dạng

Cần phát triển các sản phẩm Quỹ đầu tư đa dạng để đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng nhà đầu tư khác nhau. Các sản phẩm cần được thiết kế phù hợp với mục tiêu đầu tư, khẩu vị rủi ro và thời gian đầu tư của từng nhà đầu tư.

VI. Kết Luận và Tương Lai Phát Triển Quỹ Đầu Tư Việt Nam

Luận án bổ sung vào hệ thống lý luận chung về QĐTCK, cơ sở lý luận pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK. Cung cấp cách tiếp cận khoa học về lý luận pháp luật và thực tiễn hoạt động theo hướng kinh tế học pháp luật. Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK. Đồng thời, đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật về TTCK nói chung và pháp luật về QĐTCK nói riêng.

6.1. Tóm Tắt Các Kết Quả Nghiên Cứu Chính

Luận án đã làm rõ khái niệm và vai trò của Quỹ đầu tư, phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ. Các kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường quỹ đầu tư Việt Nam.

6.2. Đề Xuất Các Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần tiếp tục nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến Quỹ đầu tư như quản trị rủi ro, phát triển sản phẩm mới, ứng dụng công nghệ trong quản lý quỹ. Các nghiên cứu này sẽ giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của quỹ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhà đầu tư.

6.3. Triển Vọng Phát Triển Của Quỹ Đầu Tư Tại Việt Nam

Với những nỗ lực hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực quản trị, Quỹ đầu tư có triển vọng phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Quỹ đầu tư sẽ trở thành kênh đầu tư quan trọng, thu hút vốn từ nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán và nền kinh tế.

08/06/2025
Luận án tiến sĩ tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán theo pháp luật việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Lịch sử hình thành Quỹ đầu tư xuất phát từ cuộc Cách mạng công nghiệp tại Anh vào thế kỷ 19. Tại Mỹ, Quỹ đầu tư chính thức được thành lập năm 1924. Ở Việt Nam, QĐTCK đầu tiên được thành lập vào năm 2004 theo Nghị định số 48/1998/NĐ – CP ngày 11/7/1998.

Do đó, các công trình khoa học và bài viết trong nước có liên quan đến QĐTCK cũng mới được các nhà nghiên cứu quan tâm gần đây và chủ yếu là: Sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật, kinh tế. Các công trình nghiên cứu lý luận chung về QĐTCK và pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK - Công trình nghiên cứu về khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán Theo International Finance Corporation (IFC, 1996), Investment Fund in emerging market (Quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán mới nổi) thì Quỹ đầu tư được biết đến như một phương tiện đầu tư tập thể - là công cụ tài chính để tập hợp và quản lý tiền của nhiều NĐT. NĐT nhượng đáng kể việc kiểm soát khoản tiền của họ cho các nhà quản lý chuyên nghiệp để mua danh mục các loại chứng khoán hoặc cổ phần đầu tư tư nhân trong các công ty [108, p. Tác giả Nguyễn Thu Thủy (2011), Phát triển các quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay [89, tr9], thì QĐTCK thực chất là một tập hợp vốn do tổ chức và cá nhân góp lại để được quản lý nhằm tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư chứng khoán và tối đa hóa lợi nhuận cho những người tham gia.

Trần Thị Thùy Linh (2011), QĐTCK trên thị trường chứng khoán Việt Nam [65, tr5] lại cho rằng Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng, thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ hay các loại tài sản khác. Nói cách khác, Quỹ đầu tư là tổ chức đầu tư chuyên nghiệp. Tác giả Ngô Thanh Long (2006), Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng 7 khoán, thì QĐTCK là một định chế tài chính trung gian hình thành từ vốn góp của các NĐT được quản lý bởi một tổ chức quản lý quỹ chuyên nghiệp, có danh mục đầu tư chủ yếu là các loại chứng khoán được giao dịch trên TTCK [66, tr7]. Quan điểm khác, Viên Thế Giang - Võ Thị Mỹ Hương (2008), QĐTCK - Mô hình thích hợp để nhà đầu tư nhỏ tham gia TTCK [52], đề cập đến sự cần thiết để thành lập tổ chức tài chính dưới mô hình Quỹ đầu tư, Công ty đầu tư, Công ty quản lý quỹ đầu tư là do sự mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư với khả năng hạn chế về tri thức; đưa ra khái niệm QĐTCK dưới góc độ kinh tế, dưới góc độ xã hội, dưới góc độ pháp lý và lợi ích mà QĐTCK mang lại cho các NĐT.

Bài viết của Nguyễn Xuân Thành (2006), Vai trò của QĐTCK đối với NĐT cá nhân trên TTCK ở Việt Nam đưa ra khái niệm của QĐTCK và phân tích những lợi thế của các NĐT cá nhân khi đầu tư vào Quỹ đầu tư so với các NĐT cá nhân riêng lẻ tự đầu tư vốn một mình. Theo tác giả, khái niệm QĐTCK: là một tổ chức thu hút tiền từ các NĐT cá nhân có cùng mục tiêu, tập hợp lại dưới sự quản lý của CTQLQ chuyên nghiệp để đầu tư vào danh mục chứng khoán lựa chọn nhằm đảm bảo lợi ích của các NĐT cá nhân. QĐTCK giúp NĐT cá nhân đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro; QĐTCK mang tính chất đầu tư chuyên nghiệp; QĐTCK có tính thanh khoản cao; QĐTCK cung cấp nhiều khả năng lựa chọn cho NĐT cá nhân; NĐT cá nhân có thể tái đầu tư vào QĐTCK; QĐTCK giúp NĐT cá nhân tiết kiệm chi phí; QĐTCK tăng khả năng tiếp cận cho các NĐT [79]. Năm 2016, United State Securites and Exchange Commission (SEC - Ủy ban chứng khoán và hối đoái Hoa Kỳ) trong công trình Mutual Funds and ETFS – A guide for investors (Quỹ tương hỗ và Quỹ hoán đổi danh mục – một chỉ dẫn cho các Nhà đầu tư) [117], đưa ra khái niệm Quỹ tương hỗ (đăng ký SEC) là một công ty đầu tư đóng – mở, mà nó tập hợp tiền từ nhiều NĐT và đầu tư tiền này vào cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, công cụ thị trường, các tài sản hoặc các chứng khoán khác hoặc một sự kết hợp các khoản đầu tư.

Việc kết hợp chứng khoán và các tài sản của Quỹ tương hỗ được xem như danh mục đầu tư, được quản lý bởi người đăng ký tư vấn đầu tư. Mỗi cố phiếu Quỹ tương hỗ đại diện cho quyền sở hữu tương ứng của NĐT vào danh mục đầu tư của Quỹ và thu nhập do danh mục đầu tư tạo ra. 8 Ngoài ra, một số tác giả khác cũng đưa ra khái niệm về QĐTCK trong các công trình nghiên cứu theo những khía cạnh khác nhau: Đại học Luật Hà Nội (2008, 2012), Giáo trình Luật Chứng khoán [47], Võ Thị Mỹ Hương (2009), Pháp luật về quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam [62], Ủy ban chứng khoán nhà nước – Trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán (2009), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán [101], Ủy ban chứng khoán nhà nước – Trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán (2009), Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán [102]. - Công trình nghiên cứu về đặc điểm của Quỹ đầu tư chứng khoán Nghiên cứu dưới góc độ luật học, Ngô Thanh Long (2006) [66, tr7-12] phân tích đặc điểm của QĐTCK dựa trên các tiêu chí như: Một là, về đối tượng đầu tư; Hai là, về hình thức đầu tư; Ba là, về cơ cấu tổ chức và hoạt động; Bốn là, về khả năng mua lại chứng chỉ quỹ từ NĐT (đặc điểm riêng của QĐTCK ở Việt Nam).

Đối với công trình tại Ủy ban Chứng khoán Nhà Nước (2009) [102, tr246], QĐTCK có những đặc điểm chủ yếu: việc quản lý quỹ hình thành từ vốn góp của NĐT có thể được ủy thác cho một CTQLQ chuyên nghiệp quản lý; việc giám sát hoạt động quản lý đầu tư của CTQLQ về việc tuân thủ các quy định của pháp luật và Điều lệ quỹ được ủy thác cho một tổ chức giám sát độc lập (NHGS). Tổ chức này đồng thời thực hiện hoạt động bảo quản an toàn, lưu ký, thanh toán, bù trừ các giao dịch của quỹ; người đầu tư không có quyền tham gia vào hoạt động đầu tư hàng ngày của quỹ; người đầu tư chỉ được thực hiện quyền kiểm tra giám sát của mình tại các cuộc họp đại hội đồng người đầu tư. Nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học, Nguyễn Thu Thủy (2011) [89, tr9-10] thì ngoài nêu lên các đặc điểm của một quỹ đầu tư nói chung còn đưa ra ba đặc điểm đặc thù riêng của QĐTCK là: (i) QĐTCK được thiết lập chủ yếu trên cơ sở huy động vốn của các NĐT cá nhân dưới dạng vốn chủ sở hữu, phần lớn số tiền này được sử dụng để đầu tư vào danh mục chứng khoán nhằm sinh lời; (ii) Hoạt đồng đầu tư của quỹ do CTQLQ thực hiện được giám sát bởi một tổ chức, đó là các ngân hàng giám sát; (iii) Tỷ trọng vốn đầu tư quỹ sử dụng để đầu tư vào các 9 công cụ của TTCK như cổ phiếu, trái phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng vốn hoạt động của quỹ. - Công trình nghiên cứu về phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán Ngô Thanh Long (2006) [66] trong công trình nghiên cứu của mình đã phân loại QĐTCK theo các tiêu chí sau: (i) Theo cơ chế huy động vốn (Quỹ đầu tư đóng và Quỹ đầu tư mở); (ii) Theo mục tiêu và đối tượng đầu tư (Quỹ đầu tư cổ phiếu, Quỹ đầu tư trái phiếu, Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ); (iii) Theo người đầu tư (Quỹ đầu tư riêng và Quỹ đầu tư chung); (iv) Theo quy định của pháp luật Việt Nam (Theo Quyết định số 73/2004/QĐ-BTC [16] thì bao gồm Quỹ công chúng và Quỹ thành viên).

Tác giả Nguyễn Thu Thủy (2011) [89] thì phân loại QĐTCK theo: Thứ nhất, theo hình thức tổ chức (QĐTCK theo mô hình công ty; QĐTCK theo mô hình tín thác; QĐTCK theo mô hình hợp đồng; QĐTCK theo mô hình hợp danh hữu hạn); Thứ hai, theo chủ thể đầu tư (Quỹ thành viên, Quỹ đại chúng); Thứ ba, theo cơ chế vận động vốn (Quỹ đóng, Quỹ mở); Thứ tư, theo danh mục đầu tư (Quỹ đầu tư cổ phiếu, Quỹ đầu tư trái phiếu, Quỹ thị trường tiền tệ, Quỹ đầu tư chỉ số, Quỹ đầu tư bất động sản, Quỹ hỗn hợp). Còn Trần Thị Thùy Linh (2011) [65, tr11] đề cập đến cách phân loại QĐTCK như sau: (i) Theo cơ cấu tổ chức hoạt động (Quỹ tín thác đầu tư, Quỹ dạng công ty cổ phần, Quỹ công ty con); (ii) Theo cấu trúc vận động vốn (Quỹ đóng, Quỹ mở); (iii) Theo tính chất của nguồn vốn huy động (Quỹ tương hỗ, Quỹ thành viên); (iv) Theo tính chất rủi ro (Quỹ đầu tư mạo hiểm, Quỹ đầu tư tư nhân, Quỹ đầu tư chứng khoán). Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình khác cũng nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lý luận chung về QĐTCK, điển hình như: Lê Hồng Hạnh (1998), Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ trong thị trường chứng khoán [54], phân tích bản chất pháp lý của chứng chỉ quỹ đầu tư, địa vị pháp lý của CTQLQ, tức là tổ chức phát hành chứng chỉ quỹ và vai trò của chúng trong TTCK. Sự tồn tại của các QĐTCK và CTQLQ bởi những lý do: (i) Những người đầu tư vào chứng khoán nếu không phải là những công ty lớn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc mua chứng khoán; (ii) Là sự cần thiết phải đa dạng hóa hoạt động đầu tư chứng khoán; (iii) QĐTCK giúp cho các NĐT nhỏ 10 khắc phục tính chất nghiệp dư của mình trong đầu tư vào chứng khoán.

CTQLQ có mối liên hệ mật thiết với các QĐTCK được đầu tư ủy thác: CTQLQ xin phép lập QĐTCK; CTQLQ thay mặt QĐTCK phát hành chứng chỉ, quản lý tài sản của quỹ và thực hiện các giao dịch (ký Hợp đồng với NHGS); CTQLQ là người triệu tập đại hội những người đầu tư và thực hiện các thủ tục cần thiết để đại hội được tiến hành thuận lợi; CTQLQ thực hiện việc quản lý quỹ đầu tư theo đúng các quy định của điều lệ quỹ và nghị quyết của đại hội những NĐT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tổ Chức và Hoạt Động của Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn tổng quan về cấu trúc và chức năng của các quỹ đầu tư chứng khoán trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam. Nó nêu bật các yếu tố quan trọng như quy định pháp lý, vai trò của các quỹ trong việc huy động vốn và đầu tư, cũng như những thách thức mà ngành này đang phải đối mặt. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức hoạt động của quỹ đầu tư, từ đó có thể áp dụng vào việc ra quyết định đầu tư hoặc nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo tài liệu Pháp luật về quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các quy định pháp lý liên quan. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ giải pháp xây dựng quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giải pháp phát triển quỹ đầu tư trong nước. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về lĩnh vực đầu tư chứng khoán tại Việt Nam.