Tổng quan luận án

Thị trường chứng khoán hình thành các cơ hội tìm kiếm lợi nhuận cho nhà đầu tư, song song với những rủi ro tài chính đặc thù. Nhằm hạn chế rủi ro, nhà đầu tư có thể tập trung vốn vào quỹ đầu tư chứng khoán để thực hiện phương thức đầu tư tập thể. Quỹ đầu tư chứng khoán giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu chi phí giao dịch và chuyên nghiệp hóa hoạt động đầu tư thông qua sự quản lý của các công ty quản lý quỹ.

Tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý điều chỉnh quỹ đầu tư chứng khoán bắt đầu từ Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998, tạo cơ sở cho quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên thành lập vào năm 2004. Sau đó, hoạt động này được điều chỉnh bởi Luật Chứng khoán năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010. Tiếp đó, các định hướng của Chính phủ tại Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011–2020, Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 06/12/2012 phê duyệt Đề án "Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm", cùng Quyết định số 242/2019/QĐ-TTg ngày 28/02/2019 phê duyệt Đề án "Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025" đều đặt trọng tâm vào việc tái cấu trúc nhà đầu tư có tổ chức, nâng cao năng lực quản trị công ty quản lý quỹ và thúc đẩy nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Tuy vậy, qua hơn 12 năm thực thi Luật Chứng khoán 2006, quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: chủ yếu tồn tại dưới dạng quỹ đóng, quỹ mở, quỹ hoán đổi danh mục (ETF), quỹ bất động sản; chưa thành lập được quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện và công ty đầu tư chứng khoán (mô hình quỹ dạng công ty cổ phần); số lượng quỹ còn ít (chỉ có 39 quỹ tại thời điểm nghiên cứu); hiệu quả hoạt động chưa cao; số lượng nhà đầu tư tham gia hạn chế và có xu hướng sụt giảm; một số quỹ quy mô lớn đã chấm dứt hoạt động. Nguyên nhân chính xuất phát từ các bất cập trong hệ thống pháp luật điều chỉnh tổ chức, hoạt động, cơ chế quản trị quỹ và hỗ trợ thực thi. Do đó, tác giả Nguyễn Thị Hồng Phước thực hiện luận án tiến sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số 9 38 01 07) với đề tài: "Tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán theo pháp luật Việt Nam hiện nay" tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đức Minh (năm 2019).

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán; đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật; xác định những điểm hạn chế, bất cập về phương diện pháp lý và cơ chế quản trị; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được đánh số cụ thể như sau:

  1. Thứ nhất, làm rõ lý luận chung về quỹ đầu tư chứng khoán và cơ sở lý luận liên quan đến pháp luật về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán.
  2. Thứ hai, phân tích thực trạng các quy định pháp luật chứng khoán Việt Nam về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán; đánh giá các kết quả đạt được cũng như kết quả trong hoạt động thực tế; chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập về phương diện pháp luật và cơ chế quản trị làm giảm hiệu quả thực thi.
  3. Thứ ba, đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán, bám sát định hướng của Đảng và chính sách của Nhà nước về tái cơ cấu thị trường chứng khoán và hội nhập kinh tế quốc tế.

Luận án xác định 8 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Bản chất quỹ đầu tư chứng khoán là gì? Quỹ đầu tư chứng khoán có những đặc điểm nào?
  2. Hiện nay, tồn tại những mô hình tổ chức và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán nào?
  3. Việc lựa chọn mô hình quỹ đầu tư chứng khoán ảnh hưởng như thế nào đến tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán?
  4. Pháp luật về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán bao gồm những nội dung nào?
  5. Các nhân tố nào tác động đến pháp luật về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán?
  6. Quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động như thế nào trong thực tiễn khi được thành lập, tổ chức theo pháp luật Việt Nam hiện hành?
  7. Những bất cập nào dẫn đến hạn chế trong tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán về mặt pháp luật và quản trị?
  8. Những giải pháp nào cho việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay?

Các giả thuyết nghiên cứu được xác lập bao gồm:

  • Giả thuyết 1: Quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định pháp luật có sự khác biệt với các loại hình quỹ đầu tư khác tại Việt Nam.
  • Giả thuyết 2: Mô hình quỹ đầu tư chứng khoán có ảnh hưởng đến cách thức tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán.
  • Giả thuyết 3: Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay chưa hiệu quả, chưa thể hiện vai trò là công cụ thu hút vốn và điều tiết vốn cho nền kinh tế.
  • Giả thuyết 4: Pháp luật và quản trị là hai yếu tố cần có để hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán mang lại hiệu quả.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán đặt trong bối cảnh pháp luật và thực tiễn của Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu quỹ đầu tư chứng khoán không có tư cách pháp nhân và công ty đầu tư chứng khoán (dạng công ty cổ phần) theo pháp luật Việt Nam. Các quy định đối với từng loại hình quỹ (quỹ đại chúng, quỹ thành viên, quỹ mở, quỹ ETF, quỹ bất động sản) được phân tích lồng ghép trong khung khổ chung của Luật Chứng khoán năm 2006 và văn bản hướng dẫn thi hành, không nghiên cứu riêng rẽ từng quỹ cụ thể.
  • Phạm vi không gian: Trọng tâm là pháp luật Việt Nam, đồng thời có nghiên cứu, so sánh đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia (Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan).
  • Phạm vi thời gian: Hệ thống quy định pháp luật từ khi Luật Chứng khoán 2006 có hiệu lực đến thời điểm nghiên cứu (năm 2018–2019); giai đoạn trước năm 2006 chỉ mang tính tham chiếu, so sánh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu về lý luận chung, khái niệm, đặc điểm và phân loại quỹ đầu tư chứng khoán:

  • Nghiên cứu của International Finance Corporation (IFC, 1996) xác định quỹ đầu tư là phương tiện đầu tư tập thể, công cụ tập hợp vốn của nhà đầu tư giao cho nhà quản lý chuyên nghiệp.
  • Nghiên cứu của SEC Hoa Kỳ (2016) định nghĩa quỹ tương hỗ là công ty đầu tư đóng hoặc mở tập hợp vốn đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, công cụ thị trường tiền tệ.
  • Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Thu Thủy (2011) tiếp cận quỹ dưới góc độ kinh tế học là tập hợp vốn để tăng tính chuyên nghiệp và tối đa hóa lợi nhuận; Trần Thị Thùy Linh (2011) coi quỹ đầu tư là định chế tài chính trung gian phi ngân hàng; Ngô Thanh Long (2006) phân tích quỹ dưới góc độ pháp lý về cơ chế ủy thác và danh mục đầu tư; Viên Thế Giang và Võ Thị Mỹ Hương (2008), Nguyễn Xuân Thành (2006) làm rõ vai trò của quỹ đối với nhà đầu tư cá nhân và việc đa dạng hóa danh mục; Lê Hồng Hạnh (1998) nghiên cứu bản chất pháp lý chứng chỉ quỹ và địa vị công ty quản lý quỹ; Đoàn Thanh Hà (2002) phân tích quỹ như giải pháp giảm áp lực cầu cổ phiếu; Trần Vũ Hải (2006) phân tích các đặc điểm pháp lý của công ty đầu tư chứng khoán theo Luật Chứng khoán 2006; Giáo trình của Đại học Luật Hà Nội (2008, 2012) và Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Đào tạo chứng khoán thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (2009) hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm và cách thức phân loại quỹ.
  • Nghiên cứu về xung đột lợi ích: Judith Chevalier và Glenn Ellison (1997) phân tích mâu thuẫn nội tại giữa nhà đầu tư và công ty quản lý quỹ; Sébastien M. Lemeunier (2011) nghiên cứu nguồn gốc xung đột lợi ích giữa nhà đầu tư và bên tư vấn tài chính.

Nhóm nghiên cứu lý luận pháp luật về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán:

  • IFC (1996) chỉ ra tác động điều chỉnh của chính phủ đối với thị trường vốn và việc bảo vệ quyền của nhà đầu tư.
  • Olha O. Cherednychenko (2010) nghiên cứu khung pháp lý dịch vụ đầu tư bán lẻ tại Liên minh Châu Âu nhằm bảo vệ quyền nhà đầu tư.
  • Nguyễn Văn Tuyến (2006) tiếp cận tính hiệu quả của Luật Chứng khoán từ góc độ kinh tế học pháp luật (vận dụng định lý Coase về giảm thiểu chi phí giao dịch).
  • Võ Thị Mỹ Hương (2009) nghiên cứu sự cần thiết và yêu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với quỹ đầu tư chứng khoán.

Nhóm nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam:

  • Viên Thế Giang và Võ Thị Mỹ Hương (2009) đánh giá thực trạng quy định Luật Chứng khoán 2006 và chỉ ra các vướng mắc về công ty đầu tư chứng khoán, rào cản thuế thu nhập cá nhân.
  • Đoàn Minh Phụng (2013) phân tích Thông tư 224/2012/TT-BTC về quỹ đóng và quỹ thành viên; Ngô Thị Thùy (2015) nghiên cứu Thông tư 123/2015/TT-BTC về thu hút dòng vốn nước ngoài.
  • Các giáo trình chuyên ngành của Đại học Luật Hà Nội, Nguyễn Văn Tuyến (2011), Lê Thị Thu Thủy (2017) phân tích cơ chế tổ chức quản trị đại hội nhà đầu tư, công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát.
  • Về khía cạnh hoạt động thực tế: Huỳnh Thị Hương Thảo (2009), Mai Phụng Chiêu (2011), Nguyễn Duy Linh (2014) đánh giá hiệu quả của các quỹ niêm yết, quỹ mở (MBBF, VFF, VFMVFA) và thực trạng vận hành của công ty quản lý quỹ; các luận văn của Ngô Thanh Long (2006), Trần Thị Huyền Trang (2014), Đinh Vũ Hòa (2014) phân tích bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và thực tiễn áp dụng pháp luật.

Nhóm nghiên cứu đề xuất kiến nghị và giải pháp:

  • Ngô Văn Thịnh (2004) đề xuất định hướng xây dựng hệ thống kế toán tách bạch tài sản giữa công ty quản lý quỹ và quỹ; Nguyễn Xuân Thành (2006) kiến nghị pháp luật về chiến lược rút vốn, thanh hoán danh mục đầu tư; Trần Vũ Hải (2006) đề xuất quy định cơ chế chuyển đổi giữa công ty đầu tư chứng khoán và quỹ đầu tư chứng khoán; Phạm Thị Giang Thu (2006) phân tích cơ hội mở rộng đầu tư; Hoàng Đức Long (2010) kiến nghị đơn giản hóa và linh hoạt hóa nguyên tắc hoạt động quỹ; Nguyễn Thu Thủy (2011, 2012) đề xuất lộ trình sửa đổi văn bản cho quỹ mở, công ty đầu tư chứng khoán và xây dựng Luật Quỹ đầu tư; Trần Thị Thùy Linh (2011) đề xuất tiêu chuẩn ngân hàng giám sát và thu hút vốn ngoại; Nguyễn Thu Hiền (2014) nghiên cứu giải pháp tuân thủ cam kết quốc tế (WTO, ASEAN, IOSCO).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây đa phần tiếp cận dưới góc độ kinh tế học, hoặc dừng lại ở quy mô luận văn thạc sĩ luật học dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực thi hành (như Nghị định 48/1998/NĐ-CP, Nghị định 144/2003/NĐ-CP, Quyết định 73/2004/QĐ-BTC, Quyết định 45/2007/QĐ-BTC). Từ khi Luật Chứng khoán 2006 và Luật sửa đổi 2010 ban hành, chưa có công trình tiến sĩ luật học nào đánh giá toàn diện, chuyên sâu về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán gắn với cơ chế quản trị công ty và thực tiễn thi hành. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng hệ thống lý luận pháp luật đồng bộ, phân tích thực trạng văn bản hiện hành cùng dữ liệu thực tiễn hoạt động của các quỹ tại Việt Nam đến năm 2018–2019, từ đó đề xuất các giải pháp lập pháp phục vụ sửa đổi Luật Chứng khoán.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng ba lý thuyết khoa học nền tảng kết hợp cách tiếp cận kinh tế học pháp luật:

  • Lý thuyết về quan hệ ủy thác hay quan hệ đại diện (Adolf Berle và Gardiner Means, 1932; Michael Jensen và William Meckling, 1976): Vận dụng để giải thích bản chất mối quan hệ giữa nhà đầu tư (bên ủy quyền/người chủ), công ty quản lý quỹ (người đại diện điều hành) và ngân hàng giám sát trong mô hình quỹ dạng hợp đồng hoặc dạng tín thác. Lý thuyết chỉ ra xung đột lợi ích phát sinh do thông tin bất cân xứng và chi phí đại diện, từ đó đặt ra yêu cầu pháp luật phải thiết lập cơ chế giám sát độc lập để kiểm soát người đại diện.
  • Lý thuyết về doanh nghiệp (Ronald Coase, 1937; Paul Samuelson, 1954): Vận dụng luận điểm về chi phí giao dịch thị trường để giải thích sự hình thành và vận hành của quỹ đầu tư chứng khoán theo mô hình pháp nhân (công ty đầu tư chứng khoán). Việc các nhà đầu tư tập hợp vốn thành lập một pháp nhân kinh doanh chuyên nghiệp giúp giảm thiểu chi phí tìm kiếm thông tin, thương thảo hợp đồng và phân tán rủi ro.
  • Lý thuyết về bất cân xứng thông tin (George Akerlof, 1970, 2001): Phân tích sự chênh lệch thông tin giữa tổ chức phát hành/công ty quản lý quỹ với nhà đầu tư cá nhân, lý giải nguy cơ lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, làm cơ sở xây dựng các quy định pháp luật buộc công bố thông tin minh bạch.
  • Tiếp cận kinh tế học pháp luật: Dựa trên định lý Coase và các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của pháp luật chứng khoán (như nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuyến, 2006) bao gồm: tính rõ ràng, minh bạch; khả năng giảm thiểu chi phí tiếp cận thị trường và chi phí giao dịch; mức độ đáp ứng nhu cầu, lợi ích của các chủ thể tham gia.

Phương pháp luận: Nghiên cứu dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc "tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa", định hướng cơ cấu lại thị trường tài chính, đảm bảo sự vận hành đồng bộ và liên thông giữa thị trường vốn với thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường bất động sản, lao động và khoa học công nghệ.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp và phân tích lý thuyết: Sử dụng trong Chương 1 và Chương 2 nhằm làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của quỹ và xây dựng nội hàm pháp luật về tổ chức, hoạt động của quỹ.
  • Phương pháp phân tích luật viết và đối chiếu, so sánh pháp luật: Nghiên cứu các quy định của Luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi 2010), các văn bản hướng dẫn thi hành; so sánh mô hình quỹ tại các quốc gia như Hoa Kỳ (Đạo luật Công ty Đầu tư 1940), Vương quốc Anh (ITC, UIT), Nhật Bản, Hàn Quốc (ITC, ITMC) và Thái Lan.
  • Phương pháp thống kê, mô tả thực tiễn: Sử dụng trong Chương 3 để thu thập, phân loại và xử lý các số liệu thực tế về số lượng công ty quản lý quỹ, số lượng các quỹ đầu tư chứng khoán qua các giai đoạn, chỉ số tài chính, danh mục đầu tư và báo cáo thu nhập của các quỹ cụ thể tại Việt Nam.

Nguồn dữ liệu:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về chứng khoán và thị trường chứng khoán từ năm 1998 đến năm 2019.
  • Dữ liệu quản lý nhà nước từ Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
  • Báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thường niên, báo cáo hoạt động của các công ty quản lý quỹ (VFM, MB Capital, Techcom Capital, BVF, VCBF...) và các quỹ điển hình (VFMVF1, Quỹ ETF VFMVN30, MBBF...).

Nội dung chính theo từng chương

Nội dung so sánh / Tiêu chí Mô hình tín thác (Trust Model) Mô hình hợp đồng (Contractual Model) Mô hình công ty / pháp nhân (Corporate Model)
Tư cách pháp nhân Không có tư cách pháp nhân Không có tư cách pháp nhân Có tư cách pháp nhân (Công ty cổ phần)
Cơ sở pháp lý xác lập Luật Tín thác, thỏa thuận ủy thác ba bên Hợp đồng đầu tư, Điều lệ quỹ, Luật Chứng khoán Luật Doanh nghiệp/Công ty, Luật Chứng khoán, Điều lệ công ty
Chủ thể tham gia chính Bên ủy thác (NĐT), Bên nhận tín thác (Ngân hàng), Bên thụ ủy (CTQLQ) Nhà đầu tư, Công ty quản lý quỹ, Ngân hàng giám sát Cổ đông (NĐT), Hội đồng quản trị, Công ty quản lý quỹ, Ngân hàng lưu ký
Cơ chế quản trị, điều hành Quản lý thụ động hoặc ủy thác; không có tư cách cổ đông CTQLQ đại diện quản lý; giám sát độc lập bởi Ngân hàng giám sát HĐQT do cổ đông bầu ra thuê CTQLQ quản lý danh mục
Quốc gia áp dụng điển hình Hoa Kỳ (UITs), Nhật Bản Thái Lan, các nước hệ thống Dân luật (Civil Law) Hoa Kỳ (Mutual Funds theo ICA 1940), Anh (ITCs), Hàn Quốc

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Chương 1 tập trung tổng thuật các nghiên cứu trong nước và quốc tế về quỹ đầu tư chứng khoán theo 4 nhóm nội dung. Tác giả chỉ ra rằng các công trình luật học trước đây chủ yếu là luận văn thạc sĩ nghiên cứu trên cơ sở các văn bản pháp luật cũ (Nghị định 48/1998/NĐ-CP, Nghị định 144/2003/NĐ-CP), trong khi các nghiên cứu gần đây thường thuần túy về mặt kinh tế học. Từ việc chỉ ra khoảng trống lập pháp, chương này xác lập 8 câu hỏi nghiên cứu, 4 giả thuyết nghiên cứu và xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết bao gồm lý thuyết quan hệ đại diện, lý thuyết doanh nghiệp và lý thuyết bất cân xứng thông tin làm kim chỉ nam cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán

Chương này làm rõ ba nội dung nền tảng:

  • Lý luận chung về quỹ: Xác định quỹ đầu tư chứng khoán là một tập hợp các khoản tiền hoặc là một công ty được hình thành với sự góp vốn của các nhà đầu tư để tăng cường tính chuyên nghiệp trong quản lý, đầu tư chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Quỹ có ba đặc điểm cơ bản: (1) vừa là chủ thể phát hành chứng khoán vừa là chủ thể đầu tư chứng khoán; (2) đầu tư qua quỹ mang tính gián tiếp với mục tiêu sinh lợi; (3) vận hành theo cơ chế tách bạch giữa quản lý quỹ (công ty quản lý quỹ) và nắm giữ, bảo quản tài sản cùng giám sát hoạt động (ngân hàng giám sát).
  • Phân loại và mô hình hóa: Phân tích các loại hình quỹ căn cứ theo chủ thể đầu tư (quỹ đại chúng, quỹ thành viên), theo cơ chế huy động vốn (quỹ đóng, quỹ mở), theo danh mục tài sản (cổ phiếu, trái phiếu, thị trường tiền tệ, chỉ số, bất động sản, cân bằng). Phân tích chi tiết ba mô hình tổ chức trên thế giới: mô hình tín thác (Hoa Kỳ, Nhật Bản), mô hình hợp đồng (Thái Lan) và mô hình công ty (Hoa Kỳ, Anh, Hàn Quốc). Qua đó rút ra quy luật: các quỹ ban đầu thường phát triển ở dạng hợp đồng/tín thác, sau đó mở rộng sang dạng pháp nhân khi thị trường đạt mức độ phát triển cao hơn.
  • Nội hàm và vai trò của pháp luật: Pháp luật về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa nhà đầu tư, công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát dựa trên nguyên tắc tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư. Chương này khẳng định quản trị quỹ và pháp luật là hai trụ cột bảo đảm tính minh bạch và an toàn tài sản cho người góp vốn.

Chương 3: Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam

Chương 3 phân tích hệ thống quy định pháp luật thực định và dữ liệu thực tế tại Việt Nam qua các giai đoạn:

  • Thực trạng pháp luật về tổ chức: Phân tích khung pháp lý điều chỉnh việc thành lập, cơ cấu tổ chức và giải thể của hai mô hình: quỹ đầu tư chứng khoán không có tư cách pháp nhân (quỹ đóng, quỹ mở, quỹ thành viên, quỹ ETF, quỹ bất động sản) và công ty đầu tư chứng khoán theo Luật Chứng khoán 2006, Nghị định số 14/2007/NĐ-CP, Thông tư số 224/2012/TT-BTC, Thông tư số 183/2011/TT-BTC, Thông tư số 229/2012/TT-BTC.
  • Số liệu thống kê và thực tiễn hoạt động: Luận án dẫn chứng hệ thống dữ liệu qua các bảng thống kê thực tế:
    • Bảng 3.1 & 3.2: Số lượng công ty quản lý quỹ giai đoạn 2003–2011 và kết quả kinh doanh của các công ty quản lý quỹ giai đoạn 2011–2017.
    • Bảng 3.3, 3.4 & 3.5: Thời điểm thành lập, tên gọi và số lượng các quỹ đầu tư chứng khoán qua các mốc thời gian từ 2006 đến tháng 6/2016 và từ tháng 12/2016 đến tháng 5/2018 (ghi nhận quy mô đạt 39 quỹ).
    • Bảng 3.6 đến 3.12: Báo cáo danh mục đầu tư, thu nhập và báo cáo giám sát của các quỹ điển hình như Quỹ VFMVF1 (2014–2018), Quỹ ETF VFMVN30 (2014–2018), Quỹ MBBF của MB Capital (2013–2017), các quỹ thuộc BVF và VCBF năm 2018.
  • Những điểm hạn chế, bất cập: Thực tiễn ghi nhận mô hình công ty đầu tư chứng khoán hoàn toàn chưa được thành lập trên thực tế do thiếu các cơ chế vận hành khả thi và vướng mắc về quản trị; chưa triển khai được quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện; cơ chế bảo vệ nhà đầu tư còn yếu; vai trò giám sát của ngân hàng giám sát và đại hội nhà đầu tư còn mang tính hình thức; quy định về chuyển đổi mô hình quỹ chưa đồng bộ.

Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 xác định các yếu tố tác động và đưa ra hai nhóm giải pháp:

  • Yếu tố tác động và định hướng: Căn cứ vào tiến trình phát triển kinh tế vĩ mô, hội nhập quốc tế về chứng khoán, sự lớn mạnh của nhà đầu tư có tổ chức; bám sát Đề án cơ cấu lại thị trường chứng khoán theo Quyết định số 242/2019/QĐ-TTg và yêu cầu sửa đổi toàn diện Luật Chứng khoán 2006.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật:
    • Hoàn thiện quy định pháp lý về mô hình tổ chức, tháo gỡ rào cản để mô hình công ty đầu tư chứng khoán có thể đi vào đời sống thực tế; bổ sung quy định về chuyển đổi linh hoạt giữa các loại hình quỹ.
    • Bổ sung hành lang pháp lý cho các loại hình quỹ mới, đặc biệt là quỹ hưu trí tự nguyện.
    • Hoàn thiện quy định về quản trị quỹ, làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm của đại hội nhà đầu tư, ban đại diện quỹ, hội đồng quản trị công ty đầu tư chứng khoán.
    • Chuẩn hóa các quy định về công bố thông tin, định giá giá trị tài sản ròng (NAV) và kiểm soát xung đột lợi ích giữa công ty quản lý quỹ với nhà đầu tư.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế thực thi:
    • Nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm giải trình của các công ty quản lý quỹ.
    • Tăng cường tính độc lập và thẩm quyền giám sát của các ngân hàng giám sát đạt chuẩn.
    • Hoàn thiện năng lực thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nhằm bảo đảm an toàn hệ thống và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 5 đóng góp mới về mặt khoa học:

  1. Về phương diện lý luận chung: Luận án làm rõ khái niệm, vai trò, đặc điểm đặc thù phân biệt quỹ đầu tư chứng khoán với các loại quỹ khác và chủ thể kinh doanh thông thường; vận dụng các lý thuyết khoa học (lý thuyết đại diện, lý thuyết doanh nghiệp, lý thuyết bất cân xứng thông tin) vào việc định hình cơ chế tổ chức, hoạt động cho từng mô hình quỹ.
  2. Về cơ sở lý luận pháp luật: Luận án xác định nội hàm pháp luật về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán đi từ nguyên tắc điều chỉnh, xác định chủ thể, phân tích quan hệ pháp luật giữa các bên tham gia; từ đó xây dựng khái niệm pháp luật về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán.
  3. Về vai trò của pháp luật và quản trị: Luận án làm rõ vai trò của pháp luật đối với công tác quản trị quỹ đầu tư chứng khoán, khẳng định hiệu quả hoạt động của quỹ phụ thuộc chặt chẽ vào cả môi trường pháp lý lẫn cơ chế quản trị công ty; xác định các nhân tố tác động đến pháp luật điều chỉnh quỹ.
  4. Về đánh giá thực trạng và thực tiễn áp dụng: Luận án phân tích hệ thống quy định pháp luật thực định đối với quỹ đầu tư chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán; tổng hợp, thống kê dữ liệu thực tế giai đoạn 2003–2018 chứng minh thực trạng hoạt động của ngành quỹ tại Việt Nam; chỉ ra các khoảng trống lập pháp và bất cập trong tổ chức, quản trị làm giảm hiệu lực thực thi.
  5. Về định hướng và giải pháp hoàn thiện: Luận án xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật cùng cơ chế thực thi, gắn liền với định hướng cơ cấu lại thị trường chứng khoán theo Quyết định số 242/2019/QĐ-TTg và định hướng xây dựng Luật Chứng khoán mới.

Về kiến nghị cụ thể: Luận án đề xuất sửa đổi đồng bộ Luật Chứng khoán, xây dựng quy chế hướng dẫn khả thi cho mô hình công ty đầu tư chứng khoán, hoàn thiện cơ chế kiểm soát giao dịch nội gián, xung đột lợi ích, nâng cao chuẩn mực hoạt động của ngân hàng giám sát và chuẩn hóa quy trình kế toán quỹ theo thông lệ quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Giới hạn phạm vi thời gian: Nghiên cứu dừng lại ở hệ thống văn bản pháp luật có hiệu lực đến năm 2018–2019 (trước thời điểm Luật Chứng khoán năm 2019 chính thức được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2021).
  • Giới hạn phạm vi nội dung: Luận án chỉ tập trung vào các quy định chung về tổ chức và hoạt động của hai hình thức quỹ cơ bản (quỹ đầu tư chứng khoán không có tư cách pháp nhân và công ty đầu tư chứng khoán), không đi sâu giải quyết các quy chế vận hành chuyên biệt của từng sản phẩm quỹ ngách riêng lẻ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định mới của Luật Chứng khoán năm 2019 và các nghị định hướng dẫn đối với hoạt động của các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.
  • Nghiên cứu cơ chế pháp lý chuyên sâu điều chỉnh các loại hình quỹ mới như quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo hoặc các sản phẩm đầu tư tài chính phái sinh tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, Chứng khoán: Phần phân tích cơ sở lý thuyết (Chương 2) cung cấp tài liệu tham khảo về kinh tế học pháp luật, lý thuyết đại diện, lý thuyết doanh nghiệp và sự so sánh các mô hình quỹ trên thế giới (Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan).
  • Cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): Phần đánh giá thực trạng (Chương 3) và hệ thống giải pháp (Chương 4) cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật, triển khai Đề án cơ cấu lại thị trường chứng khoán theo Quyết định 242/2019/QĐ-TTg.
  • Các công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và nhà đầu tư: Luận án giúp nhận diện rõ quyền, nghĩa vụ pháp lý, cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích và trách nhiệm phân tách tài sản độc lập trong quá trình quản trị quỹ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Quỹ đầu tư chứng khoán khác biệt như thế nào so với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh