Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Lịch sử hình thành Quỹ đầu tư xuất phát từ cuộc Cách mạng công nghiệp tại Anh vào thế kỷ 19. Tại Mỹ, Quỹ đầu tư chính thức được thành lập năm 1924. Ở Việt Nam, QĐTCK đầu tiên được thành lập vào năm 2004 theo Nghị định số 48/1998/NĐ – CP ngày 11/7/1998.
Do đó, các công trình khoa học và bài viết trong nước có liên quan đến QĐTCK cũng mới được các nhà nghiên cứu quan tâm gần đây và chủ yếu là: Sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật, kinh tế. Các công trình nghiên cứu lý luận chung về QĐTCK và pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK - Công trình nghiên cứu về khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán Theo International Finance Corporation (IFC, 1996), Investment Fund in emerging market (Quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán mới nổi) thì Quỹ đầu tư được biết đến như một phương tiện đầu tư tập thể - là công cụ tài chính để tập hợp và quản lý tiền của nhiều NĐT. NĐT nhượng đáng kể việc kiểm soát khoản tiền của họ cho các nhà quản lý chuyên nghiệp để mua danh mục các loại chứng khoán hoặc cổ phần đầu tư tư nhân trong các công ty [108, p. Tác giả Nguyễn Thu Thủy (2011), Phát triển các quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay [89, tr9], thì QĐTCK thực chất là một tập hợp vốn do tổ chức và cá nhân góp lại để được quản lý nhằm tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư chứng khoán và tối đa hóa lợi nhuận cho những người tham gia.
Trần Thị Thùy Linh (2011), QĐTCK trên thị trường chứng khoán Việt Nam [65, tr5] lại cho rằng Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng, thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ hay các loại tài sản khác. Nói cách khác, Quỹ đầu tư là tổ chức đầu tư chuyên nghiệp. Tác giả Ngô Thanh Long (2006), Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng 7 khoán, thì QĐTCK là một định chế tài chính trung gian hình thành từ vốn góp của các NĐT được quản lý bởi một tổ chức quản lý quỹ chuyên nghiệp, có danh mục đầu tư chủ yếu là các loại chứng khoán được giao dịch trên TTCK [66, tr7]. Quan điểm khác, Viên Thế Giang - Võ Thị Mỹ Hương (2008), QĐTCK - Mô hình thích hợp để nhà đầu tư nhỏ tham gia TTCK [52], đề cập đến sự cần thiết để thành lập tổ chức tài chính dưới mô hình Quỹ đầu tư, Công ty đầu tư, Công ty quản lý quỹ đầu tư là do sự mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư với khả năng hạn chế về tri thức; đưa ra khái niệm QĐTCK dưới góc độ kinh tế, dưới góc độ xã hội, dưới góc độ pháp lý và lợi ích mà QĐTCK mang lại cho các NĐT.
Bài viết của Nguyễn Xuân Thành (2006), Vai trò của QĐTCK đối với NĐT cá nhân trên TTCK ở Việt Nam đưa ra khái niệm của QĐTCK và phân tích những lợi thế của các NĐT cá nhân khi đầu tư vào Quỹ đầu tư so với các NĐT cá nhân riêng lẻ tự đầu tư vốn một mình. Theo tác giả, khái niệm QĐTCK: là một tổ chức thu hút tiền từ các NĐT cá nhân có cùng mục tiêu, tập hợp lại dưới sự quản lý của CTQLQ chuyên nghiệp để đầu tư vào danh mục chứng khoán lựa chọn nhằm đảm bảo lợi ích của các NĐT cá nhân. QĐTCK giúp NĐT cá nhân đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro; QĐTCK mang tính chất đầu tư chuyên nghiệp; QĐTCK có tính thanh khoản cao; QĐTCK cung cấp nhiều khả năng lựa chọn cho NĐT cá nhân; NĐT cá nhân có thể tái đầu tư vào QĐTCK; QĐTCK giúp NĐT cá nhân tiết kiệm chi phí; QĐTCK tăng khả năng tiếp cận cho các NĐT [79]. Năm 2016, United State Securites and Exchange Commission (SEC - Ủy ban chứng khoán và hối đoái Hoa Kỳ) trong công trình Mutual Funds and ETFS – A guide for investors (Quỹ tương hỗ và Quỹ hoán đổi danh mục – một chỉ dẫn cho các Nhà đầu tư) [117], đưa ra khái niệm Quỹ tương hỗ (đăng ký SEC) là một công ty đầu tư đóng – mở, mà nó tập hợp tiền từ nhiều NĐT và đầu tư tiền này vào cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, công cụ thị trường, các tài sản hoặc các chứng khoán khác hoặc một sự kết hợp các khoản đầu tư.
Việc kết hợp chứng khoán và các tài sản của Quỹ tương hỗ được xem như danh mục đầu tư, được quản lý bởi người đăng ký tư vấn đầu tư. Mỗi cố phiếu Quỹ tương hỗ đại diện cho quyền sở hữu tương ứng của NĐT vào danh mục đầu tư của Quỹ và thu nhập do danh mục đầu tư tạo ra. 8 Ngoài ra, một số tác giả khác cũng đưa ra khái niệm về QĐTCK trong các công trình nghiên cứu theo những khía cạnh khác nhau: Đại học Luật Hà Nội (2008, 2012), Giáo trình Luật Chứng khoán [47], Võ Thị Mỹ Hương (2009), Pháp luật về quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam [62], Ủy ban chứng khoán nhà nước – Trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán (2009), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán [101], Ủy ban chứng khoán nhà nước – Trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán (2009), Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán [102]. - Công trình nghiên cứu về đặc điểm của Quỹ đầu tư chứng khoán Nghiên cứu dưới góc độ luật học, Ngô Thanh Long (2006) [66, tr7-12] phân tích đặc điểm của QĐTCK dựa trên các tiêu chí như: Một là, về đối tượng đầu tư; Hai là, về hình thức đầu tư; Ba là, về cơ cấu tổ chức và hoạt động; Bốn là, về khả năng mua lại chứng chỉ quỹ từ NĐT (đặc điểm riêng của QĐTCK ở Việt Nam).
Đối với công trình tại Ủy ban Chứng khoán Nhà Nước (2009) [102, tr246], QĐTCK có những đặc điểm chủ yếu: việc quản lý quỹ hình thành từ vốn góp của NĐT có thể được ủy thác cho một CTQLQ chuyên nghiệp quản lý; việc giám sát hoạt động quản lý đầu tư của CTQLQ về việc tuân thủ các quy định của pháp luật và Điều lệ quỹ được ủy thác cho một tổ chức giám sát độc lập (NHGS). Tổ chức này đồng thời thực hiện hoạt động bảo quản an toàn, lưu ký, thanh toán, bù trừ các giao dịch của quỹ; người đầu tư không có quyền tham gia vào hoạt động đầu tư hàng ngày của quỹ; người đầu tư chỉ được thực hiện quyền kiểm tra giám sát của mình tại các cuộc họp đại hội đồng người đầu tư. Nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học, Nguyễn Thu Thủy (2011) [89, tr9-10] thì ngoài nêu lên các đặc điểm của một quỹ đầu tư nói chung còn đưa ra ba đặc điểm đặc thù riêng của QĐTCK là: (i) QĐTCK được thiết lập chủ yếu trên cơ sở huy động vốn của các NĐT cá nhân dưới dạng vốn chủ sở hữu, phần lớn số tiền này được sử dụng để đầu tư vào danh mục chứng khoán nhằm sinh lời; (ii) Hoạt đồng đầu tư của quỹ do CTQLQ thực hiện được giám sát bởi một tổ chức, đó là các ngân hàng giám sát; (iii) Tỷ trọng vốn đầu tư quỹ sử dụng để đầu tư vào các 9 công cụ của TTCK như cổ phiếu, trái phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng vốn hoạt động của quỹ. - Công trình nghiên cứu về phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán Ngô Thanh Long (2006) [66] trong công trình nghiên cứu của mình đã phân loại QĐTCK theo các tiêu chí sau: (i) Theo cơ chế huy động vốn (Quỹ đầu tư đóng và Quỹ đầu tư mở); (ii) Theo mục tiêu và đối tượng đầu tư (Quỹ đầu tư cổ phiếu, Quỹ đầu tư trái phiếu, Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ); (iii) Theo người đầu tư (Quỹ đầu tư riêng và Quỹ đầu tư chung); (iv) Theo quy định của pháp luật Việt Nam (Theo Quyết định số 73/2004/QĐ-BTC [16] thì bao gồm Quỹ công chúng và Quỹ thành viên).
Tác giả Nguyễn Thu Thủy (2011) [89] thì phân loại QĐTCK theo: Thứ nhất, theo hình thức tổ chức (QĐTCK theo mô hình công ty; QĐTCK theo mô hình tín thác; QĐTCK theo mô hình hợp đồng; QĐTCK theo mô hình hợp danh hữu hạn); Thứ hai, theo chủ thể đầu tư (Quỹ thành viên, Quỹ đại chúng); Thứ ba, theo cơ chế vận động vốn (Quỹ đóng, Quỹ mở); Thứ tư, theo danh mục đầu tư (Quỹ đầu tư cổ phiếu, Quỹ đầu tư trái phiếu, Quỹ thị trường tiền tệ, Quỹ đầu tư chỉ số, Quỹ đầu tư bất động sản, Quỹ hỗn hợp). Còn Trần Thị Thùy Linh (2011) [65, tr11] đề cập đến cách phân loại QĐTCK như sau: (i) Theo cơ cấu tổ chức hoạt động (Quỹ tín thác đầu tư, Quỹ dạng công ty cổ phần, Quỹ công ty con); (ii) Theo cấu trúc vận động vốn (Quỹ đóng, Quỹ mở); (iii) Theo tính chất của nguồn vốn huy động (Quỹ tương hỗ, Quỹ thành viên); (iv) Theo tính chất rủi ro (Quỹ đầu tư mạo hiểm, Quỹ đầu tư tư nhân, Quỹ đầu tư chứng khoán). Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình khác cũng nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lý luận chung về QĐTCK, điển hình như: Lê Hồng Hạnh (1998), Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ trong thị trường chứng khoán [54], phân tích bản chất pháp lý của chứng chỉ quỹ đầu tư, địa vị pháp lý của CTQLQ, tức là tổ chức phát hành chứng chỉ quỹ và vai trò của chúng trong TTCK. Sự tồn tại của các QĐTCK và CTQLQ bởi những lý do: (i) Những người đầu tư vào chứng khoán nếu không phải là những công ty lớn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc mua chứng khoán; (ii) Là sự cần thiết phải đa dạng hóa hoạt động đầu tư chứng khoán; (iii) QĐTCK giúp cho các NĐT nhỏ 10 khắc phục tính chất nghiệp dư của mình trong đầu tư vào chứng khoán.
CTQLQ có mối liên hệ mật thiết với các QĐTCK được đầu tư ủy thác: CTQLQ xin phép lập QĐTCK; CTQLQ thay mặt QĐTCK phát hành chứng chỉ, quản lý tài sản của quỹ và thực hiện các giao dịch (ký Hợp đồng với NHGS); CTQLQ là người triệu tập đại hội những người đầu tư và thực hiện các thủ tục cần thiết để đại hội được tiến hành thuận lợi; CTQLQ thực hiện việc quản lý quỹ đầu tư theo đúng các quy định của điều lệ quỹ và nghị quyết của đại hội những NĐT.