MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Con người là nguồn lực quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Việc tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần luôn là một vấn đề được tất cả các quốc gia quan tâm và xem trọng. Có lẽ vì vậy mà giáo dục và y tế với vai trò của mình đã trở thành quốc sách hàng đầu trong việc phát triển nguồn nhân lực con người ở các quốc gia.
Trong lĩnh vực y tế, ban đầu, vấn đề chăm sóc sức khỏe, nhu cầu chia sẻ rủi ro khi bệnh tật là nhu cầu tự phát. Dần dần, nhu cầu này nhận được sự điều tiết và hỗ trợ từ Nhà nước. Qua thời gian phát triển, vấn đề chăm sóc sức khỏe trở thành một vấn đề mang ý nghĩa cộng đồng sâu sắc, một chính sách lớn và quan trọng của Nhà nước. Ngày nay, chính sách chăm sóc sức khỏe cộng đồng được hầu hết các quốc gia trên thế giới thực hiện và ghi nhận chủ yếu dưới hình thức bảo hiểm y tế.
Với nỗ lực đổi mới toàn diện, những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có việc đảm bảo tốt hơn vấn đề an sinh xã hội. Trên cơ sở đổi mới toàn diện, chính sách bảo hiểm y tế ra đời đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân, đặc biệt là từ khi Luật bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009 và được triển khai trên phạm vi toàn quốc từ ngày 01/01/2010. Luật bảo hiểm y tế được ban hành đã đánh dấu một bước quan trọng trong hệ thống pháp luật về bảo hiểm y tế, là cơ sở pháp lý cao nhất để thể chế hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chăm sóc sức khỏe cho người dân theo định hướng công bằng và hiệu quả. Sau hơn 4 năm triển khai thực hiện, bên cạnh những thành quả đã đạt được vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc, một số vấn đề mới cũng nảy sinh trong thực tiễn triển khai.
Vì thế, ngày 13/6/2014 Quốc hội khóa 13 đã thông qua Luật bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung số 46/2014/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Điều đáng chú ý trong lần sửa đổi này là xóa bỏ bảo hiểm y tế tự nguyện, thay vào đó là hình thức bảo hiểm y tế hộ gia đình. Qua quá trình triển khai hình thức mới trên toàn quốc và tại tỉnh Phú Thọ nói riêng đã phát sinh một số vướng mắc. Xuất phát từ lý do trên tác giả chọn đề tài “Tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của tác giả.
Tổng quan nghiên cứu BHYT là phương thức tài chính y tế hiệu quả cho chăm sóc sức khỏe nhân dân, do đó khá nhiều tác giả nghiên cứu về tài chính quỹ BHYT. Tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các biện pháp cân đối quỹ BHYT nói chung, các phương thức quản lý chi phí khám, chữa bệnh BHYT. Rất ít tác giả nghiên cứu riêng về tổ chức thực thi chính sách BHYT tự nguyện nhân dân và nay là BHYT hộ gia đình. Phạm Thị Thanh Nga (2017) với đề tài “Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc từ các doanh nghiệp ngoài nhà nước của Bảo hiểm xã hội tỉnh Điện Biên” đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc từ các doanh nghiệp ngoài nhà nước của cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh.
Luận văn cũng đã phân tích được thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc từ các doanh nghiệp ngoài nhà nước của Bảo hiểm xã hội tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011-2016 theo quy trình quản lý, từ đó chỉ rõ những hạn chế tồn tại trong công tác này và đề xuất được một số giải pháp. Hà Thị Thủy Tiên (2016) với đề tài "Phát triển BHYT hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên” đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về BHYT hộ gia đình. Từ khái niệm BHYT hộ gia đình, bản chất, vai trò, nguyên tắc hoạt động của BHYT hộ gia đình, nội dung chính sách BHYT hộ gia đình, các nhân tố ảnh hưởng tới việc tham gia BHYT hộ gia đình. Luận văn cũng đã phản ánh được thực trạng tham gia BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên, phân tích được những nhân tố ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình trên địa, chỉ ra được những khó khăn, tồn tại trong việc triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình trên bàn thành phố Thái Nguyên.
Luận văn cũng đã đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao công tác triển khai BHYT hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Trần Minh Đức (2016) với đề tài "Nâng cao chất lượng quản lý thu BHYT phục vụ cân đối quỹ khám, chữa bệnh tại BHXH Việt Nam" của đã tổng quan lý luận về BHYT và quản lý thu BHYT, phân tích thực trạng quản lý thu BHYT của cơ quan BHXH Việt Nam, chỉ rõ những thành công và hạn chế trong công tác thu BHYT tại 3 BHXH Việt Nam. Dựa vào các hạn chế trong công tác quản lý thu BHYTcủa BHXH Việt Nam và những mục tiêu, quan điểm, định hướng nhằm nâng cao chất lượng quản lý thu BHYT. Luận văn đã đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thu BHYT phục vụ cân đối quỹ khám, chữa bệnh tại BHXH Việt Nam.
Nguyễn Huy Nghị (2015) trong bài viết "Giải pháp triển khai hiệu quả BHYT theo hộ gia đình" đăng trên Tạp chí BHXH tháng 7/2015 đã nhận định: giai đoạn 2007-2008 việc vận động tham gia BHYT tự nguyện theo hộ gia đình chưa hiệu quả. Đến nay BHYT hộ gia đình là bắt buộc trong Luật BHYT sửa đổi và là cần thiết để đảm bảo cho mục tiêu BHYT toàn dân. Tác giả cũng cho rằng, BHYT hộ gia đình có các ưu việt: khai thác yếu tố chia sẻ rủi ro giữa chính các thành viên trong hộ gia đình; khắc phục tình trạng lựa chọn ngược khi mua thẻ BHYT. Tác giả Phùng Thị Cẩm Châu (2015) cho rằng: Quy định bắt buộc tham gia BHYT theo hộ gia đình là một trong các giải pháp cần thiết để thực hiện mục tiêu bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân thông qua BHYT và đạt mục tiêu BHYT toàn dân.
Tác giả cũng đưa ra nhận xét, BHYT trước 1/1/2015 người dân luôn phải cân nhắc trong việc tham gia BHYT. Nếu tham gia cho các thành viên trong hộ gia đình, chi phí kinh tế chung của cả gia đình sẽ phải dành ra một khoản để đảm bảo cho lúc ốm đau của mỗi thành viên; nếu không tham gia, gia đình sẽ bớt đi chi phí đó nhưng phải chấp nhận rủi ro cao khi phải chi trả toàn bộ chi phí y tế khi mỗi thành viên cần sử dụng các dịch vụ y tế. Từ 1/1/2015 quy định bắt buộc tham gia BHYT theo hộ gia đình đồng nghĩa với việc thành viên hộ gia đình không có quyền lựa chọn việc tham gia hay không, bởi thế, “bài toán cân nhắc” của người dân đã ảnh hưởng trực tiếp tới việc tổ chức thực hiện quy định pháp luật, là nguyên nhân khiến cho tình trạng một số cá nhân không tiếp tục tham gia BHYT trong khi các năm trước họ vẫn tham gia. Ngoài ra cũng nêu lên một rào cản khiến cho BHYT hộ gia đình khó thu hút sự tham gia của các đối tượng theo luật định chính là thủ tục cấp thẻ BHYT hộ gia đình trong thực tiễn.
Nghiên cứu của Nguyễn Khánh Phương (2012) tập trung vào giải pháp tài chính trong chăm sóc sức khỏe người nông thôn tại bốn huyện thuộc tỉnh Hải Dương và Bắc Giang. Nghiên cứu này đã khảo sát và phân tích khá sâu các yếu tố 4 tác động đến các hộ gia đình khi tham gia BHYT ở 4 huyện nông thôn đồng bằng sông hồng, đã chỉ ra các yếu tố tác động chính là: Thu nhập của hộ dân thấp, hiểu biết của người dân về BHYT chưa đầy đủ, chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh BHYT chưa tốt; mạng lưới nhân viên BHYT mỏng. Tác giả cũng khuyến nghị tăng mức hỗ trợ mệnh giá thẻ BHYT với hộ gia đình nông thôn để mở rộng người tham gia. Đây là những đề tài tham khảo hết sức bổ ích, đặc biệt là về phương diện cơ sở lý luận và được tác giả tiếp thu, kế thừa, vận dụng vào nghiên cứu.
Tuy nhiên, có thể thấy, đến thời điểm này theo những kết quả nghiên cứu, bài viết, luận văn mà luận văn này đã tham khảo chưa thấy tổ chức, cá nhân nào nghiên cứu về tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm y tế nói chung, và tại một địa bàn đặc trưng như Phú Thọ nói riêng. Vì vậy, đề tài “Tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” mà tác giả lựa chọn là đề tài mới, không trùng lắp với bất cứ nghiên cứu nào trước đây. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài hướng tới các mục tiêu cơ bản sau: - Xác định được khung nghiên cứu cho tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm y tế hộ gia đình. - Phân tích được thực trạng tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; xác định được điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm y tế hộ gia đình và nguyên nhân của các điểm yếu.
- Từ thực tế tại tỉnh Phú Thọ đề xuất được một số giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm y tế hộ gia đình đến giai đoạn năm 2020, định hướng tới năm 2025 Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: - Tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm y tế hộ gia đình nhằm mục tiêu gì? - Tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm y tế hộ gia đình bao gồm những nội dung cơ bản nào? Chịu ảnh hưởng của các nhân tố nào? - Tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm y tế hộ gia đình trong thời gian qua có các điểm mạnh, điểm yếu nào? Nguyên nhân của các điểm yếu đó? 5 - Tổ chức thực thi chính sách bảo hiểm y tế hộ gia đình cần tập trung hoàn thiện các nội dung nào? 4.