Luận Văn Về Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Dân Chủ Cơ Sở Tại Tỉnh Bắc Ninh

Chuyên khảo luật học phân tích Luận văn tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh bắc ninh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

96
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ CƠ SỞ

1.1. Khái niệm của dân chủ, dân chủ cơ sở

1.2. Khái niệm dân chủ

1.3. Khái niệm dân chủ ở cơ sở

1.4. Tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở

1.5. Khái niệm, đặc điểm tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở

1.6. Nguyên tắc của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở

1.7. Vai trò của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở

1.8. Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở

1.8.1. Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn

1.8.2. Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ trong các cơ quan Nhà nước

1.9. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở

1.10. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh

2.2. Thực trạng tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

2.2.1. Tình hình cơ sở trước khi triển khai thực hiện Pháp lệnh dân chủ

2.2.2. Tình hình tổ chức triển khai thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở

2.2.3. Đánh giá chung về thi hành pháp luật dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

2.2.4. Những kết quả đạt được

2.2.5. Một số tồn tại, hạn chế

2.2.6. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

2.2.7. Bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

3.1. Quan điểm thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở

3.2. Một số giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở ở tỉnh Bắc Ninh

3.2.1. Giải pháp chung

3.2.2. Các giải pháp cụ thể

3.3. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Dân Chủ Cơ Sở Tại Bắc Ninh

Tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở tại Bắc Ninh là một chủ đề quan trọng trong việc phát triển chính quyền địa phương. Dân chủ cơ sở không chỉ là quyền lợi của công dân mà còn là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện và bảo vệ quyền lợi đó. Việc tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở tại Bắc Ninh cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả để đảm bảo quyền lợi của công dân được thực thi đúng đắn.

1.1. Khái Niệm Dân Chủ Cơ Sở Và Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật

Dân chủ cơ sở là hình thức tổ chức quyền lực mà trong đó nhân dân là nguồn gốc của quyền lực. Tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở bao gồm các hoạt động nhằm đảm bảo quyền lợi của công dân được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước.

1.2. Vai Trò Của Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Dân Chủ

Tổ chức thi hành pháp luật dân chủ có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân. Nó giúp tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch, công khai và dân chủ, từ đó nâng cao niềm tin của nhân dân vào chính quyền.

II. Những Thách Thức Trong Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Dân Chủ Tại Bắc Ninh

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các vấn đề như sự thiếu đồng bộ trong thực hiện, sự thiếu hiểu biết của người dân về quyền lợi của mình, và sự chậm trễ trong việc xử lý các vi phạm pháp luật là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Thiếu Đồng Bộ Trong Thực Hiện Pháp Luật

Sự thiếu đồng bộ trong việc thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở dẫn đến tình trạng không công bằng trong việc bảo vệ quyền lợi của công dân. Các cơ quan nhà nước cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn để đảm bảo tính hiệu quả trong tổ chức thi hành pháp luật.

2.2. Thiếu Hiểu Biết Của Người Dân Về Quyền Lợi

Nhiều người dân vẫn chưa hiểu rõ về quyền lợi của mình trong việc tham gia vào các hoạt động dân chủ. Việc nâng cao nhận thức cho người dân là rất cần thiết để họ có thể thực hiện quyền lợi của mình một cách hiệu quả.

III. Phương Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Dân Chủ

Để nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở tại Bắc Ninh, cần áp dụng một số phương pháp cụ thể. Các giải pháp này bao gồm việc tăng cường công tác tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải cách hành chính.

3.1. Tăng Cường Công Tác Tuyên Truyền

Công tác tuyên truyền về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân trong việc tham gia vào các hoạt động dân chủ là rất quan trọng. Cần có các chương trình tuyên truyền hiệu quả để nâng cao nhận thức của người dân.

3.2. Đào Tạo Cán Bộ Chuyên Môn

Đào tạo cán bộ chuyên môn về tổ chức thi hành pháp luật dân chủ là cần thiết để đảm bảo rằng các cán bộ có đủ kiến thức và kỹ năng để thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Dân Chủ Tại Bắc Ninh

Việc tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở tại Bắc Ninh đã có những kết quả tích cực. Các hoạt động này không chỉ giúp nâng cao quyền lợi của công dân mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

4.1. Kết Quả Đạt Được Trong Thực Hiện Pháp Luật

Các kết quả đạt được trong việc tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở đã tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của địa phương. Người dân đã có nhiều cơ hội hơn để tham gia vào các quyết định của chính quyền.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm Từ Thực Tiễn

Từ thực tiễn tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở, nhiều bài học kinh nghiệm đã được rút ra. Những bài học này sẽ giúp cải thiện hơn nữa công tác tổ chức thi hành pháp luật trong tương lai.

V. Kết Luận Về Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Dân Chủ Cơ Sở Tại Bắc Ninh

Tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở tại Bắc Ninh là một nhiệm vụ quan trọng, cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả. Việc nâng cao nhận thức của người dân và cải cách hành chính sẽ góp phần vào việc thực hiện tốt hơn quyền lợi của công dân.

5.1. Tương Lai Của Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Dân Chủ

Tương lai của tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở tại Bắc Ninh phụ thuộc vào sự nỗ lực của các cơ quan nhà nước và sự tham gia tích cực của người dân. Cần có những chính sách cụ thể để đảm bảo quyền lợi của công dân được thực thi.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Cải Cách

Đề xuất các chính sách cải cách nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở là rất cần thiết. Các chính sách này cần phải được xây dựng dựa trên thực tiễn và nhu cầu của người dân.

23/07/2025
Luận văn tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh bắc ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ CƠ SỞ 1. Khái niệm của dân chủ, dân chủ cơ sở 1. Khái niệm dân chủ Khái niệm dân chủ (Désmocratie) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, gồm 2 từ “demos” có nghĩa là dân và “kratos” là quyền lực. “Désmocratie" chỉ một phương thức tổ chức quyền lực- chính quyền do công dân bầu ra và uỷ quyền thực hiện chức năng quản lý xã hội; đồng thời, họ cũng có quyền giám sát và bãi miễn nhân sự hoặc tổ chức ấy khi nó đi ngược lại lợi ích, quyền lực của mình.

Thuật ngữ “dân chủ” đã xuất hiện trong lịch sử loài người từ thời Hy Lạp cổ đại. Hêrôđôt (484 - 425 TCN) là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ này với nghĩa khởi thủy là quyền lực thuộc về nhân dân. Theo từ điển Triết học (do M. Rodentan biên soạn): “Dân chủ là một trong những hình thức chính quyền mà điều đặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân”.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do” [18, tr. Như vậy, có thể hiểu ngắn gọn dân chủ là quyền làm chủ thuộc về nhân dân. Trái với dân chủ là không dân chủ. Không dân chủ có nghĩa là một người, một nhóm người hoặc một tập đoàn người làm chủ.

Chế độ độc tài, quân chủ, chuyên chế không có dân chủ. Dân chủ là động lực của sự phát triển xã hội; còn không dân chủ là làm cản trở sự phát triển xã hội. Bởi vì dân chủ là quyền lợi chính đáng của người dân, được hưởng quyền dân chủ, được 8 hưởng lợi ích vật chất và tinh thần một cách chính đáng. Khi con người được hưởng quyền dân chủ chính đáng của mình thì cũng có nghĩa là họ được đối xử bình đẳng, công bằng.

Khi đó, họ sẽ phát huy cao nhất khả năng của mình, hết mình cống hiến cho xã hội, qua đó thúc đẩy xã hội phát triển. Xã hội càng dân chủ thì càng phát triển nhanh vì càng khơi dậy được tính tích cực của con người. Trong thời kỳ Cộng sản nguyên thủy, con người sống theo bầy đàn, xã hội chưa có sự phân chia giai cấp thì chưa có khái niệm dân chủ nhưng đã xuất hiện hình thức dân chủ đầu tiên trong lịch sử loài người. Ở đó, con người cùng chung sống, cùng lao động và cùng sử dụng sản phẩm thu được.

Đây được coi là một hiện tượng dân chủ. Khái niệm dân chủ xuất hiện khi có sự ra đời của chế độ chiếm hữu nô lệ. Lúc này, cùng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu, trong xã hội đã có sự phân chia giai cấp. Giai cấp chủ nô đã thiết lập một bộ máy bảo vệ cho mình, đó chính là nhà nước chủ nô- nền dân chủ chủ nô được hình thành.

Ở đây, giai cấp nô lệ không có quyền lực, ngay cả quyền quyết định đoạt số phận cho mình, họ được coi như là tài sản, là công cụ lao động của giai cấp chủ nô. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.Lênin cho rằng Nhà nước chủ nô là hình thái dân chủ đầu tiên trong lịch sử nhưng không phải dành riêng cho nhân dân với tư cách là số đông mà là cho giai cấp chủ nô. Có thể thấy trong xã hội chiếm hữu nô lệ, quyền lực chính trị thuộc về giai cấp chủ nô. Nhà nước phong kiến ra đời thay thế nhà nước chủ nô, nền dân chủ chủ nô được thay thế bằng nền quân chủ phong kiến.

Quyền lực hoàn toàn nằm trong tay nhà vua, giai cấp quý tộc, phong kiến, người dân hầu như không có quyền dân chủ. Với phương thức “cha truyền con nối”, quyền lực của vua lại truyền cho con cháu, nhân dân không có cơ hội nắm giữ quyền lực. Khi sản xuất phát triển lên một bước mới, giai cấp tư sản hình thành đầu tiên ở phương Tây, trong vòng 300 năm đã tiến hành các cuộc cách mạng Tư 9 sản lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập Nhà nước Tư sản. Từ đây, nền dân chủ Tư sản được thiết lập.

Đây là một bước tiến mới trong lịch sử nhân loại, giải phóng con người, con người được trao cho nhiều quyền tự do (tự do ngôn luận, tự do kinh doanh, tự do tín ngưỡng, tôn giáo…). Tuy nhiên, về bản chất thì dân chủ Tư sản vẫn dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản, giai cấp chiếm thiểu số trong xã hội. Giai cấp vô sản, nhân dân lao động là người tạo ra của cải vật chất chủ yếu cho xã hội, họ là người tạo ra giá trị thặng dư cho giai cấp tư sản nhưng họ lại bị giai cấp tư sản bóc lột.

Do đó, trong thực tế dân chủ chỉ thực sự có đối với giai cấp tư sản, giai cấp chiếm thiểu số nhưng lại nắm trong tay phần lớn của cải trong xã hội; còn nhân dân lao động chỉ có quyền tự do dân chủ về hình thức hoặc một ít quyền dân chủ về chính trị.Lê nin, dân chủ tư sản luôn là một chế độ dân chủ với thiểu số, là một thứ dân chủ đối với kẻ giàu. Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, lịch sử đã sang trang, chế độ Xã hội chủ nghĩa ra đời. Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên ra đời là nước Nga Xô Viết và một số nước khác sau đó là Việt Nam, Trung Quốc… Nền dân chủ Tư sản thay thế bằng nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ thực sự khi tất cả mọi người dân được trao mọi quyền lực của đất nước. Trong đó họ được quyền quyết định vận mệnh của đất nước, được tham gia xây dựng Nhà nước bằng phổ thông đầu phiếu… Ở Việt Nam, sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, thành lập nhà nước Dân chủ nhân dân, đưa nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.

Từ đây, thành lập nhà nước Dân chủ nhân dân, quyền dân chủ của nhân dân được khẳng định trong Hiến pháp. Ruộng đất thuộc về nông dân, nhà máy, xí nghiệp được công nhân làm chủ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và sau đó là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- nhà nước mang bản chất của giai cấp công 10 nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc được thành lập. Từ khi thành lập đến nay, nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã tỏ rõ tính ưu việt của nó trong công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh.

Tóm lại, theo phân tích trên cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về phạm trù “Dân chủ” xét theo đối tượng, phương pháp và mục đích khác nhau của nhiều bộ môn khoa học. Quan điểm về dân chủ có hai cách tiếp cận: Một là, dân chủ là một hiện tượng lịch sử - xã hội, xuất hiện và phát triển với tư cách là sản phẩm trực tiếp của đời sống chính trị, của sự vận động chính trị trong cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải quyết vấn đề quyền lực chính trị thuộc về giai cấp nào trong xã hội. Hai là, dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã hội, một sản phẩm của sự vận động chính trị bị chế ước bởi trình độ và trạng thái hiện thực của kinh tế - xã hội; mà dân chủ còn là thành tựu của sự phát triển văn hoá nhân loại, với tính cách là thước đo về trình độ giải phóng con người, xã hội mà loài người đã đạt được trong mỗi thời đại lịch sử. Trong mối quan hệ này dân chủ là một động lực, một tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội.

Khái niệm dân chủ ở cơ sở Bất cứ một tổ chức nào, xét theo hệ thống cấu trúc, cũng bao gồm hệ thống cấu trúc từ nhỏ đến lớn. Những cấu trúc nhỏ nhất trong một hệ thống có tư cách như một chỉnh thể tương đối hoàn chỉnh, độc lập, là nền tảng cho toàn bộ hệ thống được gọi là cơ sở. Cơ sở là “tế bào” của hệ thống. Bất cứ một công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống, lao động, học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ thống.

Đó chính là xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cơ sở…nơi diễn ra các quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân. Hệ thống chính trị của nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, được tổ chức thành 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện và xã (cơ sở) là cấp cuối cùng. 11 Nhân dân là người trực tiếp sản xuất ra giá trị vật chất và sáng tạo ra giá trị tinh thần. Trong lao động và sinh sống, người dân luôn gắn bó mật thiết trong một đơn vị, một tổ chức, một cộng đồng, một địa bàn dân cư nhất định.

Mỗi công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống, lao động, học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ thống, đó là xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp, đơn vị kinh tế cơ sở. Cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nơi kiểm nghiệm, phản chiếu chính xác nhất đường lối của Đảng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Do đó, nhân dân có quyền được biết, được tiếp cận thông tin, được bàn và được tham gia giải quyết và kiểm tra, giám sát mọi hoạt động diễn ra ở cơ sở. Nói đến dân chủ cơ sở là nói đến vị thế của người dân ở cơ sở, trước hết và chủ yếu là các tầng lớp người lao động đang hằng ngày làm ra của cải vật chất và tinh thần để bảo đảm cho xã hội tồn tại, phát triển.

Vì vậy, thực hiện dân chủ ở cơ sở chính là bảo đảm và nâng cao vị thế của người dân, làm nền tảng và động lực phát triển trực tiếp của xã hội; là giải quyết đúng đắn vấn đề dân chủ đang được đặt ra: Mở rộng dân chủ và phát huy cao độ quyền làm chủ trực tiếp của người dân từ cơ sở, đẩy mạnh chiều sâu dân chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ