mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả. Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình” của Trần Bảo Khánh, khái niệm “chương trình truyền hình” được hiểu là “kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng” [tr. Điều này có thể được lý giải là bởi chương trình truyền hình được tiếp nhận bởi các đối tượng công chúng cụ thể. Những thông tin mà nó cung cấp sẽ góp phần làm sâu sắc thêm những tư tưởng, chủ đề và lâu dài sẽ hình thành thói quen trong tư duy và hành động của người tiếp nhận.
Các tác phẩm tin, bài phát trên các kênh sóng truyền hình vì thế đòi hỏi phải được lựa chọn, sắp xếp hợp ly dé khán giả có thé tiếp nhận chương trình một cách day đủ, hệ thong và có chiều sâu. Đối với một Đài truyền hình, quá trình sản xuất bắt đầu bằng việc sáng tạo các tác phẩm truyền hình. Một đài truyền hình thường bao gồm có các bộ phận: lãnh đạo quản lý, biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên. Trong đó phóng viên là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm báo chí truyền hình.
Các tác phẩm báo chí truyền hình này thể hiện bản lĩnh chính trị, năng lực và trách Trang 2l nhiệm xã hội của nhà báo truyền hình. Uy tín, ảnh hưởng của một đài truyền hình trước hết được quy định bởi khả năng nam bắt thực tiễn, phát hiện những van đề nồi cộm, có ý nghĩa và phản ánh chúng một cách kịp thời tới công chúng khán giả, góp phần nâng cao nhận thức, mở rộng hiểu biết và định hướng tư tưởng cho công chúng. Chương trình theo cách hiểu của truyền thông như là một thế giới phong phú, vô tận những biểu hiện trong bản chất vốn có của nó. Các tác phẩm tin, bài được phat qua các chương trình truyền hình đều có sự lựa chọn, xắp xếp bồ tri hop lý dé giúp khán giả tiếp nhận chương trình một cách day đủ, hệ thống, có chiều sâu.
Chương trình truyền hình đề cập các vấn đề của đời sống xã hội không phải một cách ngẫu nhiên như tự thân nó có, mà nó thường chuyền tải các loại thông tin từ chương trình này đến chương trình khác, từ ngày này qua ngày khác nhằm phục vụ đối tượng công chúng xác định. Nội dung của nó làm sâu sắc thêm một cách trực tiếp những tư tưởng, chủ đề dần dần tạo thói quen trong ý thức công chúng. Các loại hình truyền thông đại chúng như báo in, phát thanh, truyền hình, báo Internet có sự khác biệt trong phương thức phản ánh và tái tạo hiện thực. Bởi mỗi loại hình báo chí ngoài những nét chung đều có những đặc thù riêng.
Đặc thù đó tạo ra những nét riêng từ việc sản xuất, tiếp nhận và tiêu dùng sản phẩm. Có thé nói chương trình truyền hình là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng truyền hình. Chương trình là hình thức thé hiện thực tế, hình thức vật chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong xã hội để truyền tải thông tin đến công chúng truyền hình. Có thé nói nếu không có chương trình thì không còn truyền hình.
Nhưng mặt khác, chương trình truyền hình là kết quả hoạt động, là sản phẩm của tập thể cơ quan đài: bộ phận lãnh đạo, bộ phận kỹ thuật, bộ phận nội dung chương trình, bộ phận hậu cần,. tạo nên thuật ngữ chương trình truyền hình cả về mặt sáng tạo và sản xuất chương trình. Quá trình sản xuất chương trình truyền hình cũng như việc sản xuất các sản phẩm khác, có người sản xuất, có người tiêu dùng. Người tiêu dùng sản pham báo chí cũng có tác động chi phôi tới người làm ra Trang 22 sản phẩm.
Trong báo chí mối quan hệ đó được thé hiện: nhà báo — tác phẩm - công chúng. Chương trình truyền hình tạo thành chu kỳ khép kín các mắt xích trong chuỗi mắt xích giao tiếp truyền hình. Tóm lại, chương trình truyền hình là kết quả truyền hình. Trong đó bao gồm các quá trình sáng tạo ra nó từ nhiều công đoạn và tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau.
Quá trình tạo dựng kế hoạch và xắp xếp chương trình được gọi là chương trình truyền hình. Khái niệm tổ chức sản xuất chương trình truyén hình Theo Từ điển Tiếng Việt, “tổ chức là việc sắp xếp, bố trí thành các bộ phận dé cùng thực hiện một nhiệm vu hoặc cùng một chức nang chung” [tr. Tổ chức với nghĩa động từ được hiểu theo các nghĩa sau: sắp xếp, bố trí thành các bộ phận dé cùng thực hiện một nhiệm vu hoặc cùng một chức nang chung. Sắp xếp, bố trí để làm cho có trật tự, nề nếp.
Tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự. Tổ chức, hiểu theo nghĩa thông thường là liên kết nhiều người lại dé thực hiện một công việc nhất định. Tổ chức đặt ra dé thực hiện nhiệm vụ. Mỗi tô chức đều có mục đích, nhiệm vụ riêng.
Cũng theo Từ điển Tiếng Việt, “sản xuất là tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động, là hoạt động băng sức lao động của con người hoặc bằng máy móc, chế biến các nguyên liệu thành ra của cải vật chất cần thiết [tr. Hiểu rộng ra, tổ chức sản xuất có nghĩa là tập hợp nhân lực, bố trí công việc cho từng người lao động một cách có tính toán và khoa học nhằm huy động tối đa sức sáng tạo của người lao động, giảm thấp nhất chi phí sản xuất dé tạo ra các sản phẩm tốt. Theo giáo trình giảng dạy môn Tổ chức lao động - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông “Quá trình sản xuất là quá trình con người dùng sức lao động của mình thông qua công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động nhằm mục dich tạo ra những sản phẩm có ích cho nhu cau xã hội” [ tr. Chương trình truyền hình được biết đến là một đơn vị nội dung được phát sóng trên truyền hình.
Đồng thời, đây là còn là phương thức giao tiếp của truyền hình với khán gia. Các Tivi show này con là sự kêt hợp, sap xêp, bô trí các nội Trang 23 dung về giáo dục, giải trí, thông tin. trong một khung giờ nhất định và tuân thủ quy định về chủ đề và phạm vi nội dung. Chương trình truyền hình bao gồm nhiều thể loại như: Talk show, Gameshow, Bản tin, Phim truyện, Phim sitcom,.Trong đó, gameshow và truyền hình trực tiếp là một trong những chương trình truyền hình phổ biến và thu hút tại Việt Nam Các chương trình truyền hình được phân loại dựa trên quy trình sản xuất.
Tùy vào phương thức sản xuất khác nhau cho ra hai loại chương trình là: chương trình sản xuất theo phương thức điện ảnh và chương trình truyền hình sản xuất theo phương thức trường quay. Không chỉ vậy, theo thời điểm phát sóng lại chia ra: chương trình phát sóng trực tiếp và chương trình phát sóng có hậu kỳ. Có thê thấy, chỉ mới đề cập đến định nghĩa đã thấy sản xuất chương trình truyền hình là một lĩnh vực không hề đơn giản. Chỉ có những don vị truyền thông chuyên nghiệp mới có khả năng đảm bảo tạo ra những show chuyên nghiệp và thu hút đông đảo lượt xem từ khán giả.
Tổ chức sản xuất là sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, qui mô và công nghệ sản xuất đã xác định nhăm tạo ra sản phẩm có chat lượng đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Trong lĩnh vực truyền thông có thé hiểu việc tổ chức sản xuất là tạo ra, làm nên các sản phẩm truyền thông trên cơ sở các quy tắc nghề nghiệp và theo quy trình nhất định. Về cơ bản tổ chức sản xuất thực chất là việc phân chia các bước công việc trên cơ sở áp dụng công nghệ, các biện pháp tô chức phân công lao động, các phương tiện và công cụ lao động thích hợp. Từ đó, tìm ra biện pháp phối hợp hài hòa giữa các bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất.
Tổ chức sản xuất có vai trò quyết định đối với hiệu quả của quá trình sản xuất. Là hoạt động sử dụng tối ưu và hiệu quả các nguồn nhân lực, trang thiết bị chuyên ngành một cách có kế hoạch và hợp lý, phát huy mọi khả năng sáng tạo của con người để tạo ra sản phẩm có chất lượng. Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình là một quá trình sáng tạo và thực hiện sản xuất nội dung, dự định phát sóng trên truyền hình. Chúng không Trang 24 phải là hình thức “booking” quảng cáo truyền hình hay quảng cáo kênh, mà chỉ đơn thuần là khâu sản xuất tiền kì cho tới hậu kì trước khi lên sóng.
Từ đó có thể thấy, tổ chức sản xuất là khâu quan trọng trong quá trình hình thành tác phẩm báo chí vì nó phản ánh tính thống nhất, hiệu quả của cả một quy trình làm việc của tập thé. Dé làm ra một sản pham phát thanh, người chịu trách nhiệm sản xuất chương trình phải xây dựng quy trình tổ chức, cách thức sản xuất, dựa trên nên tảng tri thức chuyên ngành phát thanh và những công cụ sản xuất hiện có. Sau đó mới tập hợp một lực lượng lao động có những tiêu chuẩn năng lực nhất định, phù hợp để cùng tham gia sản xuất chương trình. Từ những nội dung đã trình bày và cách tiếp cận đó, có thê hiểu tổ chức sản xuất chương trình truyền hình được xem là việc điều hành sản xuất bằng cách kết hợp hài hòa nhân lực và phương tiện của hai khối nội dung và kỹ thuật sản xuất chương trình, khâu nối hợp lý thành quả lao động của từng người nhằm đưa lên sóng một sản pham truyền hình có giá tri thông tin và hiệu qua xã hội cao.
Như vậy, tô chức san xuất chương trình truyền hình là làm những gi cần thiết dé liên kết nhân sự, các quy trình lao động bằng cách dùng tư liệu lao động, bao gồm con người (phóng viên, biên tập viên.) và công cụ (trang thiết bị nghiệp vụ.) tác động vào đối tượng của quá trình sản xuất (nghiên cứu thực tiễn, gặp gỡ, phỏng vấn, điều tra, viết kịch bản.), trên cơ sở các quy tắc nghề nghiệp và theo quy trình nhất định để tạo ra chương trình truyền hình, đáp ứng nhu cầu thị hiểu khán giả truyền hình và có những đóng góp thiết thực cho xã hội. Các khái niệm về sản xuất nội dung truyền hình đa nền tảng a.