Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận thực tiễn về tổ chức lao động khoa học. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn. Chương 3: Thực trạng tổ chức lao động khoa học tại Công ty Cổ phần than Núi Béo – Vinacomin giai đoạn 2015- 2017. Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao tính khoa học của tổ chức lao động tại Công ty Cổ phần than Núi Béo – Vinacomin thời gian tới.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Các tƣ tƣởng và trƣờng phái tổ chức lao động khoa học đã có từ xa xƣa khi con ngƣời biết làm việc theo từng nhóm có tổ chức, có điều khiển và phối hợp hành động để tạo ra của cải, vật chất nhiều nhất. Vai trò của tổ chức lao động khoa học đã đƣợc thể hiện một cách giản dị qua câu nói dân gian “Một ngƣời biết lo bằng cả kho ngƣời làm”. Các Mác đã khẳng định: “Mọi hoạt động lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một quy mô tƣơng đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến tổ chức, quản lý” và ông hình dung công tác tổ chức, quản lý lao động giống nhƣ công việc của ngƣời nhạc trƣởng trong dàn hợp xƣớng. Với ý nghĩa quan trọng của công tác tổ chức lao động khoa học (TCLĐKH) trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội, nhiều học giả trong và ngoài nƣớc đã nghiên cứu, tiếp cận theo nhiều hƣớng khác nhau.
Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc phân tích các nội dung của TCLĐKH và đƣa ra các giải pháp hoàn thiện TCLĐKH trong khuôn khổ 1 DN. Trong đó, các tác giả đã nghiên cứu tỉ mỉ, công phu và đƣa ra những đánh giá, nhận định xác đáng về TCLĐKH và tạo ra nguồn tài liệu cần thiết để học tập, tham khảo và vận dụng vào thực tiễn. Dƣới đây là một số tài liệu nghiên cứu đã công bố về vấn đề về TCLĐKH trên thế giới và trong nƣớc.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài *) Công trình nghiên cứu của Frededric W. Tổ chức lao động có khoa học lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu một cách nghiêm túc vào thế kỷ 19 bởi Frederick Winslow Taylor - đại biểu ƣu tú nhất 5 z của trƣờng phái này và đƣợc gọi là cha đẻ của phƣơng pháp quản trị khoa học.
Tên gọi của lý thuyết này là nhan đề trong tác phẩm của Taylor “Các nguyên tắc quản trị một cách khoa học” (Principles of scientific management) xuất bản lần đầu ở Mỹ vào năm 1911. Trong tác phẩm này Taylor đã chỉ trích các nhƣợc điểm trong cách tổ chức lao động kiểu cũ, theo ông các nhƣợc điểm chính là: (1) Thuê mướn công nhân trên cơ sở ai đến trước mướn trước, không lưu ý đến khả năng của công nhân; (2) Công tác huấn luyện nhân viên hầu như không được triển khai trong hệ thống tổ chức lao động; (3) Công việc làm theo thói quen, không theo tiêu chuẩn và phương pháp tốt nhất, người công nhân tự định đoạt tốc độ làm việc; (4) Hầu hết các công việc và trách nhiệm đều được giao cho người công nhân; (5) Nhà quản trị làm việc bên cạnh người thợ, quên mất chức năng chính là lập kế hoạch và tổ chức công việc. Vai trò và tính chuyên nghiệp của nhà quản trị không được thừa nhận. Từ phê phán, ông nêu ra 4 nguyên tắc tổ chức lao động khoa học gồm: (1).
Phương pháp khoa học cho những thành tố cơ bản trong công việc của công nhân, thay cho phương pháp cũ dựa vào kinh nghiệm; (2). Xác định chức năng hoạch định của nhà quản trị, thay vì để công nhân tự ý lựa chọn phương pháp làm việc riêng của họ; (3). Lựa chọn và huấn luyện công nhân, phát triển tinh thần hợp tác đồng đội thay vì khích lệ những nỗ lực cá nhân riêng lẻ của họ; (4). Phân chia công việc giữa nhà quản trị và công nhân, để mỗi bên làm tốt nhất công việc của họ, chứ không phải chỉ đổ lên đầu công nhân như trước kia.
6 z Ông lƣu ý công tác tổ chức và quản trị lao động trong mỗi DN cần lƣu ý đến các vấn đề: (1). Nghiên cứu thời gian và các thao tác làm việc hợp lý nhất để thực hiện công việc có kết quả cao nhất; (2). Lấy cách mô tả công việc (Job description) để chọn lựa công nhân, thiết lập hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống huấn luyện chính thức; (3). Trả lương khuyến khích theo sản lượng và bảo đảm an toàn lao động bằng dụng cụ thích hợp; (4).
Khuyến khích thăng tiến trong công việc, chú trọng lập kế hoạch công việc và tổ chức hợp lý các hoạt động lao động. Thuyết tổ chức, quản lý lao động dựa theo các căn cứ khoa học của Taylor tạo ra ánh sáng mới cho hoạt động lao động trong DN, nó đã có những đóng góp vô cùng to lớn, làm thay đổi hẳn hiệu quả của nền công nghiệp nƣớc Mỹ trong thời gian sau đó. Nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng đã tham gia nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của TCLĐKH sau Taylor, điển hình là Henry Ford (1841 – 1925). Henry Ford dã ứng dụng thuyết quản lý sản xuất và dây chuyền của Taylor vào công ty Ford Motors của mình.
Kết quả là Ford Motors đã trở thành tập đoàn sản xuất ôtô lớn nhất trên thế giới hồi đầu thế kỷ 20. Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Folet (1868 – 1933), Simon (1916 – 2001). đã phát triển môn khoa học này, mở rộng lĩnh vực nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý lao động trong DN, nhiều trong số đó còn đƣợc ứng dụng vô cùng hiệu quả tới ngày nay. Tuy nhiên, nghiên cứu của Taylor vẫn còn nhiều hạn chế.
Việc sản xuất theo dây chuyền lặp đi lặp lại trong thời gian dài gây tâm lý nhàm chán cho ngƣời công nhân cùng các vấn đề tâm lý cho họ. Quan điểm quản lý của Taylor cho thấy sự hiểu biết phiến diện về bản chất của con ngƣời nói chung 7 z và ngƣời công nhân nói riêng. Việc quá đề cao và áp dụng quy chế thƣởng phạt trong nhiều trƣờng hợp không phát huy đƣợc hiệu quả và đã gây ra phản ứng tiêu cực từ ngƣời công nhân. Hạn chế này phản ánh trình độ phát triển của khoa học về TCLĐ vào thời kỳ cánh mạng công nghiệp của Taylor.
Nhƣng thế giới đã công nhận học thuyết tổ chức, quản lý lao động có khoa học của Taylor đã đóng vai trò là luồng ánh sáng giải tỏa sự bế tắc, mâu thuẫn và bất cập trong tổ chức, quản lý lao động thời đó. Là một nhà toán học ngƣời Anh đã nỗ lực tìm cách tăng năng suất lao động nên đã cùng với Adam Smith chủ trƣơng chuyên môn hóa lao động, dùng toán học để tính toán cách sử dụng nguyên vật liệu tối ƣu nhất. Ông cho rằng, các nhà quản trị phải nghiên cứu thời gian cần thiết để hoàn thành một công việc, từ đó ấn định tiêu chuẩn công việc, đƣa ra việc thƣởng cho những công nhân vƣợt tiêu chuẩn. Ông cũng là ngƣời đầu tiên đề nghị phƣơng pháp chia lợi nhuận để duy trì quan hệ giữa công nhân và ngƣời quản lý.
Là những ngƣời tiên phong trong việc nghiên cứu thời gian làm việc thông qua nghiên cứu hành vi và phát triển lý thuyết quản trị lao động khác Taylor. Hai ông bà đã phát triển một hệ thống các thao tác để hoàn thành một công việc. Cụ thể đã đƣa ra hệ thống xếp loại các động tác nhƣ cách nắm đồ vật, cách di chuyển… để mô tả hệ thống các hành vi lao động, tạo nên mối tƣơng quan giữa các động tác và tần số lặp lại với sự mệt nhọc của ngƣời lao động, từ đó xác định những động tác dƣ thừa làm phí phạm năng lực và đƣa ra cách thức loại bỏ những động tác dƣ thừa, chú tâm vào những động tác hữu ích làm giảm mệt mỏi và tăng năng suất lao động. Đã phát triển sơ đồ Gantt mô tả dòng công việc cần để hoàn thành một nhiệm vụ, vạch ra những giai đoạn của công việc theo kế hoạch, ghi cả thời 8 z gian kế hoạch và thời gian thực hiện.
Ngày nay phƣơng pháp Gantt là một công cụ quan trọng trong quản trị tác nghiệp trong DN. Gantt cũng đƣa ra một hệ thống chỉ tiêu công việc và hệ thống khen thƣởng cho công nhân và quản trị viên đạt và vƣợt chỉ tiêu. Tóm lại, các trƣờng phái tổ chức, quản lý khoa học lao động có nhiều đóng góp có giá trị cho sự phát triển của lý thuyết về TCLĐKH, cụ thể: (1). Đã phát triển kỹ năng quản trị lao động qua phân công và chuyên môn hóa quá trình lao động, hình thành qui trình sản xuất dây chuyền; (2).
Đã nêu lên tầm quan trọng của việc tuyển chọn và huấn luyện nhân viên, đầu tiên dùng đãi ngộ để tăng năng suất lao động; (3). Đã nhấn mạnh việc giảm giá thành để tăng hiệu quả, dùng những phƣơng pháp có tính hệ thống và hợp lý để giải quyết các vấn đề quản trị; (4). Coi tổ chức lao động là đối tƣợng nghiên cứu khoa học; (5). Đã áp dụng tốt trong trƣờng hợp môi trƣờng sản xuất ổn định, nhƣng khó áp dụng trong môi trƣờng sản xuất phức tạp, nhiều thay đổi; (6).
Đề cao bản chất kinh tế và ý chí của ngƣời quản lý, đánh giá thấp nhu cầu xã hội và tính tự thể hiện của ngƣời lao động, do vậy vấn đề cá nhân ngƣời lao động ít đƣợc quan tâm; (7). Cố áp dụng nguyên tắc quản trị phổ quát cho mọi hoàn cảnh mà không nhận thấy tính đặc thù của môi trƣờng và quá chú tâm đến vấn đề kỹ thuật.2 Tình hình nghiên cứu trong nước *) Cuốn sách “ECGONOMIC Tổ chức lao động khoa học trong các cơ sở sản xuất” do GS.TS Nguyễn Văn Lê (2001) biên soạn. Đã nhận diện cách sống và làm việc theo khoa học, cách để đạt năng suất cao, hiệu suất tốt mà không đi ngƣợc mục tiêu sức khỏe và môi trƣờng. Mục tiêu cuốn sách không chỉ đề cập tới lợi ích kinh tế mà nó còn coi trọng sức khỏe toàn diện và môi trƣờng sinh thái, tới đạo đức và văn hóa nghệ 9 z thuật.
Tuy nhiên cuốn sách đã xuất bản khá lâu bởi vậy một số điểm không còn phù hợp với hiện tại.