CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ CƠ GIỚI HÓA KHAI THÁC TẠI MỘT SỐ MỎ THAN VÙNG QUẢNG NINH VÀ TRÊN THẾ GIỚI 1. TÌNH HÌNH ÁP DỤNG CƠ GIỚI HÓA ĐỒNG BỘ Ở NƯỚC NGOÀI Việc phân loại các sơ đồ công nghệ cơ giới hiện nay trên thế giới thường dựa trên cơ sở khả năng chống giữ gương khai thác hoặc đặc tính chiều dày, góc dốc vỉa. Theo điều kiện chống giữ khoảng trống khai thác, sơ đồ công nghệ cơ giới hóa phân chia thành hai loại: - Sơ đồ công nghệ cơ giới hóa không chống giữ gương khai thác: sử dụng khi điều kiện địa chất mỏ không cho phép áp dụng cơ giới hóa đồng bộ và không chia gương khai thác có chiều dài lớn. Công nghệ phổ biến dạng này chủ yếu là sử dụng máy khoan guồng xoắn dùng cho vỉa mỏng hoặc khoan nổ mìn với lỗ khoan dài.
- Sơ đồ công nghệ cơ giới hóa có chống giữ gương khai thác: sử dụng các loại vật liệu chống (giàn tự hành, vì chống thủy lực, v.v) để chống giữ đá vách trực tiếp trên suốt chiều dài gương khai thác, kể cả tải trọng động của đá vách cơ bản. Các loại cột chống đều có khả năng dịch chuyển theo tiến độ gương khai thác. Theo đặc điểm độ dốc và chiều dày vỉa than, các sơ đồ công nghệ cơ giới hóa khai thác được phân chia thành 3 dạng cơ bản: - Công nghệ cơ giới hóa khai thác vỉa có độ dốc đến 35o với các nhóm chiều dày vỉa than. - Công nghệ cơ giới hóa khai thác vỉa có độ dốc từ 36 o 45 o với các nhóm chiều dày vỉa than.
- Công nghệ cơ giới hóa khai thác vỉa có độ dốc từ 46 o 90 o với các nhóm chiều dày vỉa than. Để khai thác các vỉa than bằng phương pháp hầm lò áp dụng hai hệ thống khai thác cơ bản là hệ thống khai thác gương lò ngắn và hệ thống khai thác gương lò chợ dài. Hệ thống khai thác gương lò ngắn với đặc trưng là không lấy hết than mà để lại các trụ bảo vệ giữ nóc. Trong thời gian gần đây, ngành công nghiệp than trên thế giới có xu hướng phát triển Học viên: Nguyễn Tiến Dũng 14 Chuyên ngành: Khai thác mỏ khai thác các khu vực có điều kiện kiến tạo địa chất phức tạp và các trụ bảo vệ bằng các lò chợ ngắn (15 50 m), sử dụng thiết bị cơ giới hóa đồng bộ như máy khấu combai loại nhỏ, máng cào uốn góc giữa lò chợ và lò chuẩn bị, giàn chống thủy lực với xà di động, giữ nóc bằng neo v.
Chiều dài theo phương các khu khai thác không đòi hỏi lớn do thời gian di chuyển và lắp đặt thiết bị cơ giới hóa nhanh. Tốc độ tiến gương dao động trong phạm vi rộng phụ thuộc vào chiều dài lò chợ (trung bình 5 10 m/ngày.đêm) cho phép nâng cao sản lượng lò chợ. Tuy nhiên hệ thống khai thác này có nhược điểm là tổn thất than lớn tại các trụ bảo vệ (30 40%) đặc bịêt là càng khai thác xuống sâu, các trụ bảo bảo vệ càng có kích thước lớn nên tổn thất than càng cao. Đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi tại Mỹ, Úc, những nơi mà các vỉa than không quá sâu và đá vách tương đối cứng.
Từ năm 1982, Phòng khai thác Bắc Kinh thuộc Tổng Viện Nghiên cứu Khoa học than Trung Quốc đã bắt đầu nghiên cứu kỹ thuật khai thác CGH đồng bộ hạ trần, thu hồi than nóc vỉa dầy trên cơ sở phương pháp khai thác hạ trần của Châu Âu. Năm 1984, nghiên cứu, chế tạo ra giàn chống khai thác CGH đồng bộ FY400-14/28 có cơ cấu thu hồi than nóc đầu tiên và đã được thử nghiệm tính công nghiệp sử dụng trong lò và được áp dụng đầu tiên tại mỏ Phổ Hà - Cục Khoáng sản Thẩm Dương. Sau đó, phương pháp khai thác hạ trần thành công và được ứng dụng rộng rãi tại các vỉa đặc biệt các khu vực vỉa than dầy, cho hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay, những nước sản xuất than lớn trên thế giới đều coi việc thực hiện cơ giới hoá khai thác than là chiến lược phát triển của mình.
Đồng thời, đã phát triển mạnh mẽ công nghệ cơ giới hóa đồng bộ trang bị các hệ thống tự động hóa để vận hành và quản lý điều khiển đồng bộ thiết bị trong lò. Nó không những giảm nhẹ cường độ lao động, cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân trong hầm lò, mà còn nâng cao sản lượng của lò chợ, giảm tiêu hao nguyên liệu, giá thành, tăng hiệu quả kinh tế sản xuất và khả năng cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Học viên: Nguyễn Tiến Dũng 15 Chuyên ngành: Khai thác mỏ 1. Khái quát sự phát triển công nghệ khai thác CGH đồng bộ thu hồi than nóc ở Trung Quốc Quá trình phát triển kỹ thuật khai thác CGH đông bộ có thu hồi than nóc của Trung Quốc chia làm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn thử nghiệm (1984÷1990), giai đoạn áp dụng rộng rãi (1990÷1995), Giai đoạn hoàn thiện, nâng cao (1996 đến nay).
a) Giai đoạn thử nghiệm (1984÷1990) Năm 1982, Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu công nghệ khai thác CGH thu hồi than nóc tại các vỉa dốc thoải và được áp dụng thử nghiệm đầu tiên tại khu khai thác III, mỏ than Phổ Hà - Cục khoáng sản Thẩm Dương. Năm 1985, tiến hành thử nghiệm công nghệ khai thác CGH thu hồi than nóc áp dụng cho các vỉa dầy, dốc đứng tại nhiều mỏ than thuộc bể than Đông Bắc, do một số nguyên nhân, hiệu quả chưa thực sự lí tưởng, tình trạng an toàn cũng không cao, sản lượng lò chợ còn thấp. Năm 1987, Mỏ than số I - Bình Đỉnh Sơn đã nhập khẩu đồng bộ thiết bị lò chợ cơ giới hóa, chống đỡ bằng giàn chống tự hành VHP-732, có cơ cấu thu hồi than nóc tại xà nóc của giàn, than thu hồi được rót vào máng cào trước gương. Do một số nguyên nhân, sản lượng lò chợ chưa đạt được công suất thiết kế.
Thành quả chính của giai đoạn này là áp dụng thử nghiệm thành công công nghệ khai thác CHG đồng bộ, chống giữ bằng giàn chống thủy lực có cơ cấu thu hồi than nóc trong điều kiện vỉa dầy, dốc thoải tại mỏ than Dương Khoáng. Tháng 7/1990, lập kỉ lục sản lượng tháng đạt 140.000 tấn, năng suất lao động đạt 57,8 tấn/công, là điển hình cho mô hình khai thác CHG đồng bộ, thu hồi than nóc đạt hiệu quả cao, sản lượng lớn, chứng minh được tính khả thi của việc áp dụng công nghệ khai thác CGH đồng bộ có tu hồi than nóc. b) Giai đoạn áp dụng rộng rãi (1990÷1995) Trong giai đoạn này, công nghệ khai thác CGH đồng bộ có hạ trần, thu hồi than nóc đã phát triển rất nhanh. Trước hết, đã có sự chuyển biển Học viên: Nguyễn Tiến Dũng 16 Chuyên ngành: Khai thác mỏ lớn trong quan niệm và nhận thức của ngành than về công nghệ khai thác này.
Mặt khác, đã có nhiều nghiên cứu được đưa vào áp dụng thành công trong công nghệ thu hồi than nóc, tính chất thu hồi của lớp than nóc, mối quan hệ giữa giàn chống và lớp đất đá xung quanh lò chợ và công tác điều khiển lớp đá vách. * Đặc điểm chính - Nâng cao nhận thức của ngành than về CGH khai thác có thu hồi than nóc - Công nghệ khai thác CGH thu hồi than nóc có nhiều đột phá khi áp dụng trong các vỉa có điều kiện địa chất phức tạp. - Các loại hình giàn chống thủy lực chống giữ trong lò chợ khai thác CGH đồng bộ thu hồi than nóc không ngừng được cải tiến, áp dụng. - Giải quyết được một loại các vấn đề khó khăn trong lò chợ khai thác CGH đồng bộ thu hồi than nóc như công nghệ khai thác, tỷ lệ thu hồi, chống bụi than, khí mê tan và phòng chống cháy nổ.
* Kết quả đạt được - Dần dần thành thục công nghệ khai thác CGH đồng bộ thu hồi than nóc, sản lượng không ngừng nâng cao, điển hình lò chợ CGH tại mỏ than Hưng Long - Duyễn Châu đạt sản lượng 3 triệu tấn/ năm (năm 1995). - Công nghiệp cơ khi ngày các phát triển, từ giai đoạn nhập khẩu giàn chống, mô phỏng chế tạo đến tự chủ chế tạo được giàn chống thủy lực hạ trần có tính ổn định, tin cậy cao. - Đột phá quan trọng khi áp dụng công nghệ này vào khai thác các vỉa than có điều kiện địa chất phức tạp, vách trụ vỉa có độ bền vững thấp, góc dốc vỉa lớn, độ suất khí mê tan cao… c) Giai đoạn hoàn thiện, nâng cao (1996 đến nay) Từ năm 1996 đến nay, kỹ thuật khai thác CGH đồng bộ thu hồi than nóc ở các vỉa có điều kiện phức tạp không ngừng tạo đột phá, sản lượng, hiệu quả không ngừng nâng cao. Giàn chống thủy lực dạng yểm hộ hai cột thủy lực, có cơ cấu tự động hóa thu hồi than nóc tại máng cào sau, là một Học viên: Nguyễn Tiến Dũng 17 Chuyên ngành: Khai thác mỏ trong những điểm sáng của công nghệ khai thác CGH đồng bộ các vỉa than rất dầy.
Năm 2005, lần đầu tiên đề xuất khái niệm hạ trần, thu hồi than nóc với chiều cao khai thác lớn, chế tạo đưa vào sử dụng thành công bộ giàn chống thủy lực có cơ cấu hạ trần, thu hồi than nóc với chiều cao khai thác lớn đầu tiên. Tình hình áp dụng cơ giới hóa ở Hoa Kỳ Khi mà nhu cầu sử dụng than ngày càng tăng lên, phương pháp khai thác buồng–cột đã sớm bị cho là lãng phí, các ưu điểm của công nghệ khai thác than bằng lò chợ dài đã được ghi nhận là: "Công nghệ khai thác than bằng lò chợ dài đã chứng minh được chi phí sản xuất một tấn than là nhỏ nhất và Thời gian thu hồi vốn là ngắn nhất, năng suất lao động tăng, phương pháp thông gió lò chợ sử dụng hạ áp chung của mỏ, các công nhân làm việc tập trung; công tác nổ mìn gần như không cần thực hiện do phần than hạ trần có thể tự sập đổ a) Giai đoạn 1950-1960 Sau Thế chiến thứ II, sự đầu tư vào khai thác than bằng lò chợ dài của Hoa Kỳ đã được thay đổi bằng khả năng sử dụng máy bào than nhập khẩu từ Đức,máng cào uốn. Máy bào than được di chuyển qua gương than trong khi lướt trên một lớp đệm trượt trên máng cào. Máy bào than có thể cắt lớp than từ 0,06÷0,12m chất lên máng cào.
Năm 1952, Hiệp hội nhiên liệu khí miền Đông, với sự hỗ trợ từ Cục Mỏ Hoa Kỳ, đã thử nghiệm khai thác than bằng lò chợ cơ giới hóa với một máy bào than và máng cào tại mỏ Statesbury.