Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Chương 2: Thực trạng tổ chức lãnh thổ công nghiệp thành phố Hải Phòng Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức lãnh thổ công nghiệp thành phố Hải Phòng đến năm 2030. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP 1. Tổ chức lãnh thổ kinh tế 1.
Phân công lao động xã hội: cơ sở nền tảng của tổ chức lãnh thổ kinh tế Phân công lao động xã hội (PCLĐXH) là một tất yếu khách quan bắt nguồn từ nhu cầu và sự phát triển đời sống xã hội. Kinh tế hàng hóa là một hình thái của nền sản xuất xã hội nối tiếp và cao hơn nền sản xuất tự cung tự cấp, trong đó, sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi thông qua mua bán trên thị trường. Điều kiện chung của tồn tại sản xuất hàng hóa là PCLĐXH và sự tách biệt (độc lập) kinh tế giữa những người sản xuất. Phân công lao động xã hội tạo ra sự CMH sản xuất và từng ngành nghề riêng biệt làm cho hoạt động sản xuất ngày càng đa dạng, phong phú và rộng khắp.
Như vậy, PCLĐXH có hai hình thức cơ bản là phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ. Phân công lao động xã hội theo ngành chính là tổ chức lao động xã hội theo các ngành để tạo ra những sản phẩm cụ thể phục vụ yêu cầu xã hội. PCLĐXH theo ngành phát triển từ thấp đến cao, từ nông nghiệp đến công nghiệp rồi đến dịch vụ. Quá trình PCLĐXH theo ngành đã kéo theo quá trình phân công lao động theo lãnh thổ - đây là một quá trình tất yếu thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa PCLĐXH theo ngành và PCLĐXH theo lãnh thổ.
“Phân công lao động theo lãnh thổ chính là tổ chức lao động xã hội theo ngành gắn với lãnh thổ, làm cho mỗi lãnh thổ có một chức năng riêng và công năng tương đối khác nhau” [4]. Quá trình phân công lao động theo lãnh thổ thúc đẩy việc hình thành CMH sản xuất của từng vùng (địa phương) dựa vào những thế mạnh riêng của mình về sự khác biệt của điều kiện sản xuất cũng như tài năng của người lao động, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao, giá thành hạ nhằm mang lại hiệu quả kinh tế. Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ không phải là bất biến mà là một phạm trù kinh tế, xã hội, lịch sử; quá trình này không chỉ phản ánh những quan hệ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội của con người do lịch sử tạo ra mà còn phản ánh cả trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Do đó, có thể thấy rằng tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung, TCLT CN nói riêng có quan hệ hữu cơ với PCLĐXH theo lãnh thổ, hay nói cách khác, PCLĐXH theo lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt đối với tổ chức lãnh thổ kinh tế.
Quan niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế Theo quan điểm của trường phái địa lý Xô Viết, tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự sắp xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng có ảnh hưởng lẫn nhau, có mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống dân cư nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường [5]. Theo quan điểm của trường phái địa lý phương Tây, tổ chức lãnh thổ (còn gọi là tổ chức không gian kinh tế) được coi là sự lựa chọn về nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn nhằm tìm kiếm một tỉ lệ, quan hệ hợp lý về phát triển kinh tế - xã hội giữa các ngành trong một vùng, giữa các lãnh thổ nhỏ trong một vùng lớn hoặc giữa các vùng trong cùng một quốc gia có xét đến mối liên hệ giữa các quốc gia để tạo ra giá trị mới [4]. Theo quan điểm này, về mặt địa lý, tổ chức không gian kinh tế xã hội được xem như là một hoạt động có tính chất định hướng, hướng tới sự công bằng về không gian giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực với không gian ảnh hưởng nhằm giải quyết việc làm, cân đối giữa nông thôn và thành thị, bảo vệ môi trường sống của con người. Như vậy, có thể hiểu “tổ chức không gian kinh tế” là sự “sắp xếp” và “phối hợp” các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lý kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kỹ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững của lãnh thổ.
Các lý thuyết liên quan đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp Kinh tế lãnh thổ và những lí thuyết kinh tế quan trọng có liên quan với nhau. Các nhà địa lý kinh tế - xã hội nghiên cứu kinh tế lãnh thổ, phát hiện những vấn đề có tính qui luật và đúc rút chúng thành những lí thuyết phát triển kinh tế và không gian kinh tế 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của sự phát triển. Dưới đây là một số lí thuyết phổ biến ứng dụng trong TCLT CN. Lí thuyết tổ chức Hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung, hệ thống lãnh thổ công nghiệp nói riêng cần phải được tổ chức.
Giữa ngành với ngành, giữa ngành với lãnh thổ cần được bố trí theo một trật tự hợp lí, được định hướng phát triển đúng đắn [4]. Việc bố trí các ngành (xí nghiệp) trên lãnh thổ cần tôn trọng các qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế - xã hội diễn ra trên lãnh thổ và xem xét trong mối quan hệ với lãnh thổ khác nhằm đảm bảo được hiệu quả cao nhất về kinh tế - xã hội - môi trường. Lý thuyết khu vị luận công nghiệp Với việc công bố Über den Standort der Industrie (Theory of the Location of Industries - Lý thuyết về Vị trí của ngành công nghiệp) vào năm 1909, Alfred Weber (1868-1958) đưa ra lý thuyết đầu tiên về định vị công nghiệp. Mô hình của ông đã tính toán các nhân tố không gian cho việc tìm kiếm vị trí tối ưu và chi phí tối thiểu cho các nhà máy sản xuất.
Các điểm để định vị một ngành công nghiệp giảm thiểu chi phí vận chuyển và lao động yêu cầu phân tích của ba yếu tố: - Các điểm vận chuyển tối ưu dựa trên các chi phí về khoảng cách với "chỉ số vật liệu", tỷ lệ trọng lượng với các sản phẩm trung gian (nguyên liệu) đến thành phẩm. - Các biến dạng lao động, trong đó nhiều nguồn thuận lợi hơn của lao động làm cho chi phí thấp hơn có thể biện minh cho khoảng cách vận chuyển lớn hơn. - Các lực tích tụ và không tích tụ [15]. Vấn đề xác định vị trí cho một ngành công nghiệp ngày càng phù hợp với thị trường toàn cầu ngày nay và các tập đoàn xuyên quốc gia.
Chỉ tập trung vào các cơ chế của mô hình Weber có thể biện minh khoảng cách vận chuyển lớn hơn đối với lao động rẻ và chưa được khai thác nguyên liệu thô. Khi nguồn tài nguyên đang cạn kiệt hoặc có những vấn đề nảy sinh của người lao động, ngành công nghiệp có thể di chuyển đến các nước khác nhau [6]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, mục đích của sự định vị công nghiệp tập trung là để “cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận”. Lý thuyết này coi trọng vai trò của thành phố và xem thành phố là trung tâm thị trường, thành phố có lực hút lớn để lan tỏa ra xung quanh.
Lý thuyết này chỉ phù hợp với một nền kinh tế đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Weber là người đầu tiên nghiên cứu lý thuyết tổng hợp về định vị công nghiệp, đưa ra mô hình không gian về phân bố công nghiệp. Lý thuyết các điểm trung tâm của W. Christaller - (Đức, 1933) Sự phân bố và kích thước của các vị trí đô thị là một câu hỏi quan trọng trong khoa học đô thị.
Walter Christaller, một nhà địa lý Đức, là người đầu tiên đưa ra “Lí thuyết điểm trung tâm” (CPT) vào năm 1933. Christaller đang nghiên cứu các khu định cư đô thị ở miền nam nước Đức và lý thuyết cao cấp này như một phương tiện để nhận biết làm thế nào các khu định cư đô thị phát triển và có khoảng cách trong mối quan hệ với nhau. Một vị trí trung tâm là một khu định cư hoặc một điểm nút phục vụ khu vực xung quanh với hàng hoá và dịch vụ (Mayhew, 1997). Mô hình của Christaller cũng được dựa trên tiền đề rằng tất cả các hàng hoá và dịch vụ được mua bởi người tiêu dùng từ các địa điểm trung tâm gần nhất, mà nhu cầu được đặt trên tất cả các địa điểm trung tâm trong đồng bằng tương tự, và rằng không có nơi tập trung nào thực hiện lợi nhuận quá mức.
CPT của Christaller đã được phát triển từ khái niệm về tập trung như một nguyên tắc đặt hàng. Chirstaller đề xuất rằng nếu tập trung khối lượng xung quanh hạt nhân là một hình thức cơ bản về trật tự, thì cùng một nguyên tắc có thể đánh đồng với việc tập trung hóa tại các khu định cư đô thị. Mô hình Christaller đề xuất một sự sắp xếp thứ bậc của các khu định cư và khái niệm mô hình với sự sắp xếp lục giác. Các hình lục giác tốt nhất tương đương một vòng tròn bảo hiểm tối đa và một số vấn đề của chồng chéo trong sắp xếp tròn đã được gỡ bỏ từ sắp xếp lục giác.
Quy mô dân số và tầm quan trọng của trung tâm không nhất thiết đồng nghĩa, nhưng các trung tâm của nơi này đã được xác định 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về tầm quan trọng của nó trong khu vực xung quanh nó [17]. Các lý thuyết bao gồm các khái niệm cơ bản của trung tâm, ngưỡng, và phạm vi. Tính trung tâm vẽ đến một nơi cụ thể. Ngưỡng là thị trường tối thiểu cần thiết để mang lại một công ty mới hoặc nhà cung cấp dịch vụ mới, sự tồn tại thành phố và giữ cho nó hoạt động, và phạm vi là khoảng cách tối thiểu trung bình mà mọi người sẽ đi du lịch để mua các dịch vụ, hàng hóa.
Đây là nguyên tắc tiếp thị trong mô hình của Christaller.