CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VÈ NHÀ Ở XÃ HỌI GẮN LIÊN VỚI SINH KE CUA NGUOI THU NHAP THAP 11 Khai nigm 1.1 Khái niệm về sinh kế Cách tiếp cận sinh kế ngày nay đã được áp dụng rộng rãi khi nghiên cứu. về đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ gia đình. Khái niệm sinh kế được giải thích như sau " Sinh kế bao gẫm năng lực, tài sản và các hoạt động cân có để đảm bao phương tiện sinh sống " [13] 1.2: Khái niệm về không gian sinh kế dành cho người thu nhập thấp trong. nhà ở xã hội Không gian sinh kế trong nhà ở xã hội dành cho người thu nhập thấp là không gian được người dân sử dụng bán sở hữu để kinh doanh buôn bán thu lợi nhuận Không gian sinh kế có thẻ tổ chức bên trong nhà và bên ngoài nhà và thuộc quyền ở hữu của ban quản lý tòa nhà, người dân muốn sử dụng phải thông qua hình thức thuê hoặc đấu thầu.
Hàng tháng phải nộp thuế và chịu sự giám sát chặt chẽ của ban quản lý tòa nhà. Người dân sử dụng không gian sinh kế theo giờ quy định hàng ngày.3 Khái niệm về người thu nhập thấp. Thứ nhất: Người có thu nhập thấp là người có thu nhập thấp hơn mức trung bình trong xã hội. Thứ hai: Là người có khả năng tích lũy vốn để tự cải thiện điều kiện ở nhưng cần có sự hỗ trợ, tạo điều kiện của nhà nước về vay vốn dài hạn trả góp, về chính sách đất đai và cơ sở hạ tầng (người vay vốn làm nhà có khả năng hoàn trả).
[4] Theo ngành nghề: Họ làm việc ở tất cả các ngành nghề trong cả nước bao gồm các thành phần chính sau: ~_ Công nhân viên chức nhà nước, cán bộ y tế, sỹ quan quân đội. Ba thành phần này thuộc lớp trung lưu trở xuống. ~ _ Giáo viên các trường phổ thông, một bộ phận ở các trường cao đẳng, đại học, sinh viên các tỉnh lẻ, công nhân các nhà máy, các công ty xây dựng, dân lao động buôn bán nhỏ. Nhìn chung tuyệt đại bộ phận (đa số) vốn đã hoặc đang là các gia đình công nhân viên chức nhà nước có thu nhập thấp từ thời bao cấp và những sinh viên mới ra trường còn rất trẻ.
Những người này thường làm việc trong khu vực quốc doanh. Trong số đó một bộ phận lao động đáng kể hiện bị thôi việc hoặc thiếu việc làm. Hầu hết số này đều rơi vào gia đình công nhân trực tiếp. Bộ phận còn lại là rơi vào các viên chức nhà nước là giáo viên, sỹ quan và giảng viên mới vào nghề.
Ngoài ra còn có các hộ kinh doanh buôn bán nhỏ mà chủ yếu là các địch vụ hè phố như bán về số, đạp xích lô, sửa xe đạp, buôn bán Có thể nói cách phân chia này giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh xã hội đô thị. Theo trình độ: Hầu hết những người này có trình độ từ trung cấp trở xuống đó là những công nhân trực tiếp sản xuất và những người làm buôn bán nhỏ, làm dịch vụ hè phố, những người này thường làm lao động chân tay và lao động nặng nhọc. Bên cạnh đó có những người có trình độ cao đẳng, đại học. Tuy họ không phải lao động bằng chân tay nhưng do mới ra trường, mới làm việc chưa có kinh nghiệm và do quy định mức lương tối thiểu chung của nhà nước nên những người này ngoài đồng lương ít ỏi họ không có thêm thu nhập nào khác.
Thu nhập của những người này cũng sẽ biến đổi theo thời gian tác nghiệp và khả năng làm việc. Vì vậy khi đưa ra chính sách về nhà ở cho những người thu nhập cần đặc biệt chú ý đến sự thay đồi trong thu nhập của tầng lớp này. Theo lứa tuổi: Nhìn chung những người này còn khá trẻ nằm trong khoảng từ 21-45 tuổi. Trong đó có đến 72,12% ở độ tuổi từ 21-36 tuổi, đây là lứa tuôi rất nhạy bén với sự thay đổi của các đô thị và là lứa tuổi có khả năng.
biến đông lớn nhất về cuộc sống do còn sức trẻ.4 Khái niệm về nhà ở xã hội * Khái niệm “Nhà xã hội” trên thế giới: Khái niệm “Nhà xã hội” đầu xuất hiện từ các nước Anh, Mỹ, Canada vào. những năm 1970 và dần dần lan rộng ra các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc. Nhà ở xã hội là một loại nhà cung cấp cho những người không có thu nhập, hoặc có nhưng không đáng kể. Họ là những người không thể nào và không bao giờ tự mình kiếm được một chỗ ở.
Những người này thường là người vô gia cư, người già đơn thân, người tật nguyễn, người đau yếu không nơi nương tựa, những người sau khi mãn hạn tù nhưng không còn sức lao. Loại nhà này trong nhiều trường hợp được gọi là nhà từ thiện, các loại nhà này đa phần là của nhà nước, ngoài ra còn có các hiệp hội nhà ở, các tổ chức từ thiện tham gia từng phần đề duy trì cuộc sống của những người sống. trong nhà xã hội Hình 1.1 Một số nhà ở xã hội dành cho người thu nhập thấp ở các nước trên Nhà ở xã hội Tây Ba Nha Nhà ở xã hội Hàn Quốc Nhà ở xã hội Pháp Nhà ở xã hội Malaysia Tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà người đăng ký ở nhà xã hội có thể được miễn phí hoàn toàn hoặc cho thuê với giá thấp. Phần tiền thuê này thường được các tổ chức từ thiện như nhà thờ, tổ chức phi chính phủ, các mạnh thường quân chi trả qua các quỹ mà không chỉ trả trực tiếp cho người sử dụng vì sợ họ tiêu phung phí.
Ví dụ như ở Anh, đặc điểm chính của loại nhà này là người sử dụng không có bất cứ quyền sở hữu, không được chuyên nhượng, không thừa kế mà chỉ có quyền sử dụng có thời hạn trong 10 - 15 năm. Những nhà này không làm bằng vật liệu kiên cố (có thê gọi là nhà tạm), nhưng có đủ các tiện nghỉ tối thiểu như điện, nước, gas, nhà vệ sinh, nhà bếp, nhà tắm. Vị trí của. loại nhà này được đặt ở những mảnh đất mà chủ sở hữu chưa dùng đến.
không đặt ở khu vực trung tâm hay các nút giao thông đông đúc, có thể đặt ở ngoại thành, các khu vực xa. Những người sống trong nhà xã hội phải cam kết pháp lý, hết thời hạn sử dụng nếu chủ sở hữu cần lấy lại để đưa vào khai thác như xây các công trình mới thì phải chấp hành, không kiện cáo. tùy tình hình mà nhà nước sẽ bố trí họ vào sống trong các khu nhà ở xã hội khác. Nhưng dù là của nhà nước hay các tổ chức từ thiện thì cũng được quy về một mối là một tỗ chức Chính phủ đứng ra lo liệu đẻ dễ bề quản lý về an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và cũng tránh trường hợp bị những người có dụng tâm xấu lợi dụng họ làm ăn phi pháp như buôn bán ma túy, hay lợi dụng danh nghĩa họ để kiếm tiền từ những người tốt bụng.
Theo thống kê của Chính phủ Anh thì năm 2010 có 44% người sống trong nha 6 xa hi là cha mẹ đơn thân không nơi nương tựa, trong đó 21% là người già trên 65 tuổi, 24% trên 75 tuổi; 25% người sống trong nhà là những người thuộc nhóm dân tộc thiểu số; 31% là người không còn sức lao động vì tật nguyễn, tai nạn lao động, tai nạn giao thông. [11] * Khái niệm “Nhà xã hội” ở Việt Nam: Nhà ở xã hội được nêu trong Luật Nhà ở năm 2005. Phát triển nhà ở xã hội được Nhà nước khuyến khích như miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, được miễn giảm các khoản thuế liên quan. Đối tượng được thuê nhà là những.
người thu nhập thấp thuộc diện cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp. Tuy Luật Nhà ở đã ban hành từ năm 2005 nhưng 4 năm sau mới có một số văn bản pháp quy về nhà ở xã hội, còn tên gọi nhà ở xã hội trong các văn bản pháp quy dưới luật lại được đổi thành nhà ở cho nhà thu nhập thấp, khiến nhiều người lầm tưởng có hai loại nhà khác nhau. Chiến lược nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2011, sự nhằm lẫn này đã được loại bỏ khi quy định rõ 8 nhóm đối tượng chính sách xã hội gặp khó khăn về nhà ở, không đủ khả năng thanh toán theo cơ chế thị trường sẽ được tập trung, ưu tiên giải quyết chỗ ở, bao gồm: Người có công với Cách mạng; các hộ nghèo khu vực nông thôn; người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị; nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức, nhân sỹ, trí thức, văn nghệ sỹ; nhà ở cho sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất, dịch vụ ngoài khu công nghiệp; nhà ở cho sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đăng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; nhà ở cho. các đối tượng chính sách xã hội đặc biệt khó khăn (người tàn tật, người già cô đơn, người nhiễm chất độc gia cam.) Việc định danh thật chính xác từng loại nhà đúng vai trỗ quan trong, giúp cơ quan quản lý thực hiện các thao tác nghiệp vụ thuận tiện.
Bởi mỗi loại nhà sẽ có một loại chính sách khác nhau. Lâu nay ở Việt Nam chưa định danh được loại nhà chung cư cao cấp, trung bình hay bình ân (nên định theo loại 1,2,3), cũng như nhà ở xã hội, nhà thu nhập thấp, nhà cho người nghèo (nhà tình thương, tình nghĩa) làm cho không chỉ nhà quản lý lúng túng mà còn tạo. kẽ hở cho một số người lợi dụng trốn thuế, trốn tránh nghĩa vụ đóng góp cho. địa phương, mượn danh nghĩa huy động vón phi pháp.2 _ Vấn đề nhà ở xã hội, nhu cầu về nhà ở cho người thu nhập thấp.1 Chính sách của Chính phủ về vấn đề nhà ở xã hội Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 67/2010/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số quy định về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.
Quyết định mới có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25-12-2010. Theo quy định mới, chính sách hỗ trợ nghèo về nhà ở được áp dụng với các hộ đang cư trú tại khu vực không phải là đô thị trên phạm vi cả nước hoặc đang cư trú tại các thôn, làng, buôn, bản, ấp, phum,sóc trực thuộc phường, thị trấn hoặc xã trực thuộc thị xã, thành phó thuộc tỉnh nhưng chủ yếu sinh sống. bằng nghề nông, lâm ngư nghiệp.