Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Chambers và Robert (1983) lập luận rằng hộ gia đình có thu nhập thấp hướng tới sinh kế bền vững thông qua việc chống lại tính dễ bị tốn thương khi gặp rủi ro và bất an bằng cách thế chấp cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Đối với Carney (1998), cho rằng sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (gồm cả vật chất, nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết dé sống.
Hay Cục Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) và tổ chức CARE Quốc tế đã phát trién khung lý thuyết về sinh kế, sinh kế bền vững. Dựa trên khung lý thuyết này, rất nhiều các nghiên cứu đã được triển khai và mở rộng các khung lý thuyết cho sinh kế nông thôn. Các chương trình để xác định sinh kế cộng đồng dân cư theo hướng bền vững được xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và liên quan đến các yêu tố bên ngoài. Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Ellis (2000), đã chỉ ra mức độ quan hệ của tăng trưởng kinh tế, cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân.
Đồng thời nhấn mạnh vai trò của thé chế, chương trình cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế và xóa đói giảm nghèo. Nghiên cứu khẳng định sự bền vững của sinh kế cộng đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng và chương trình phát triển sinhké. Theo Mills va Porras (2002), nghiên cứu nay chỉ ra thị trường về DVMTR trên phạm vi toàn cầu đã được xem xét và đánh giá. Nghiên cứu đã xác định cơ cấu cho các loại DVMTR là: Hấp thụ carbon chiếm 27%; bảo tồn đa dạng sinh học 25%; bảo vệ đầu nguồn 21%; vẻ đẹp cảnh quan chiếm 17% và các giá trị khác chiếm 10%.
Các nghiên cứu trongnước Phạm Thiên Ha (2012) đã tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói của hộ gia đình tại huyện Thuận Bắc tinh Ninh Thuận dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố liên quan đến đời sống đồng bào dân tộc thiểu số của huyện so với mặt bằng chung toàn tỉnh. Số liệu nghiên cứu được điều tra ngẫu nhiên và xử lý, phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả, so sánh và phân tích hồi quy với mô hình hồi quy OLS được sử dụng dé phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nghèo của hộ gia đình. Kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng nghèo đói ở hộ dân tộc thiêu số tương đối nghiêm trọng hơn so với nhóm hộ dân tộc kinh. Đồng thời, kết quả phân tích thực tế cho thấy các yếu tố trình độ học vấn của chủ hộ, tuổi chủ hộ, diện tích đất canh tác, vay tín dụng và dân tộc tác động làm tăng thu nhập bình quân đầu người và làm giảm xác suất nghèo của hộ gia đình.
Trong quá trình phân tích mô hình, yếu tổ tỷ lệ phụ thuộc là yếu tố tác động nhiều nhất dẫn đến tăng khả năng nghèo củahộ. Hoàng Mạnh Quân (2012) tìm hiểu về kiến thức bản địa và mối liên hệ của nó với chiến lược sinh kế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đề tài đưa ra những điểm được và chưa được trong việc vận dụng kiến thức bản địa vào các hoạt động sinh kế, đề cập đến việc xây dựng một chiến lược sinh kế bền vững dé người dan tu xây dựng và phát triển chiến lược sinh kế cho bản thân và gia đình vừa đảm bảo điều kiện sống hiện tại vừa bảo đảm cho sự phát triển vững chắc cho tươnglai. Trần Quốc Nhân và cộng sự (2012) tìm hiểu vai trò của tổ hợp tác trong việc nâng cao nguồn lực sinh kế cho nông hộ tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Kết quả phân tích cho thấy, tô hợp tác có vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả sử dụng các nguồn vốn sinh kế của nông hộ về nguồn vốn xã hội và nguồn vốn tài chính. Nông hộ tham gia tổ hợp tác dễ tiếp xúc cán bộ ở địa phương, được tham gia nhiều lớp tập huấn khoa học kỹ thuật, dễ tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, hiệu quả sử sụng đồng vốn và tích lũy thu nhập cũng cao hơn so với nông hộ không tham gia tổ hợp tác. Tuy nhiên, phân tích cũng cho thấy tô hợp tác chưa có vai trò trong việc giúp cải thiện hiệu quả sử dụng các vốn sinh kế của nông hộ như nguồn vốn nhân lực, nguôn vôn vật chât và nguôn vôn tự nhiên. Nguyễn Hữu Trung (2013) đã phân tích ảnh hưởng đến nguồn vốn của hộ điều tra để áp dụng khung sinh kế bền vững đánh giá tác động của PFES đến đời sống các hộ dân, như: Vốn con người, Vốn vật chất, Vốn tự nhiên Vốn xã hội, Vốn tài chính.Kết quả tạo nguồn tài chính mới cho việc cải thiện sinh kế người nhận git rừng và giảm gánh nặng ngân sách.
Thé hiện mối quan hệ giữa người sử dụng và người cung ứng dịch vụ. Tăng nhận thức về giá trị môi trường rừng cho mọi người. Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu hộ gia đình có mức vay vốn trung bình tăng thêm một triệu đồng thì thu nhập trung bình của hộ sẽ tăng lên 0. Có sự khác biệt về thu nhập trung bình của hai nhóm hộ, cụ thé nhóm hộ tham gia PFES cao hơn hộ không tham gia là 9.
Bùi Thị Minh Hang (2015) đã thực hiện nghiên cứu các yếu tổ tác động đến sinh kế bền vững của người dân tái định cư thuộc Dự án thủy điện Sơn La. Nghiên cứu đã đánh giá những thay đổi về sinh kế và nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược sinh kế của người dân tái định cư, từ đó đề xuất các kiến nghị đối với các nhà hoạch định chương trình, các cá nhan/t6 chức thực hiện các dự án thủy điện và chương trình tái định cư nhằm đạt được mục tiêu sinh kế bền vững cho người dân tái định cư. Đề đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng mô hình sinh kế bền vững (DFID, 2001) và sử dụng các phương pháp phân tích phương pháp thống kê mô tả và kỹ thuật phân tích các yếu tố thành phần (Shorrocks, 1982; Fields, 2003): so sánh, phân tích những thay đổi về tài sản sinh kế, chiến lược sinh kế và kết quả của các chiến lược sinh kế của các hộ tái định cư và hội sở tại trước va sau tái địnhcư. Võ Văn Tuan và Lê Cảnh Dũng (2015) đã tìm ra các yếu tố ảnh hưởng kết qua sinh kế nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long dựa trên tiếp cận sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh.
Số liệu quan sắt về tài sản và kết quả sinh kế được chuẩn hóa theo thang đo. Nghiên cứu cho thấy tài sản sinh kế hộ chuyêncanhthấphơnhộcanhtáckếthợp,kếtquảsinhkếhộcósựảnhhưởngtích cực của các nguồn vốn tài chính, xã hội và vật chất. Chất lượng lao động cũng thúc đây hộ đạt kết quả sinh kế tốt; tuy nhiên, giảm giá nông sản đã làm cho hộ trồng lúa và hoa màu chưa đạt được kết quả sinh kế kỳ vọng. Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2016) đã tiếp cận khung sinh kế bền vững do Bộ phát triển Quốc tế Anh (DFID) đưa ra về van đề phát triển về sinh kế con người và đói nghèo trong những bối cảnh khác nhau, dé nghiên cứu về sinh kế của người Mạ ở vườn quốc gia Cát Tiên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy cuộc sống của người Mạ có sự gắn bó mật thiết với rừng và sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên rừng. Mặt dù, thời gian gần đây phát triển sản xuất nông nghiệp trở thành nguồn thu chính của phan lớn gia đình người Mạ. Tuy nhiên do thiếu đất canh tác, thiếu vốn, canh tác chưa hiệu quả còn chậm đổi mới, công cụ thô sơ, đất đai bạc màu, năng suất cây trồng thấp gây nhiều khó khăn cho sản xuất của họ. Từ kết quả nghiên cứu tác giả đã đề xuất một số giải pháp như điều tra quy hoạch đất đai ở cộng đồng người mạ, phát triển nông nghiệp, tăng cường lợi ích rừng, phát triển ngành phi nông nghiệp, nâng cao năng lực vốn tài chính và vốn conngười.
Lê Thị Huệ Trang (2017) đã đánh giá tác động của dự án Phát triển lâm nghiệp dé cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên đến sinh kế của hộ dân tộc thiêu số tai tinh Gia Lai. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm: phương pháp thu thập số liệu bao gồm số liệu thứ cấp, số liệu sơ cấp và phương pháp pháp phân tích số liệu như thống kê mô tả, phân tích định tính, phân tích mô hình hồi quy tuyến tính. Kết quả phân tích chỉ ra rằng dưới tác động của dự án, nguồn sinh kế của hộ dân tộc thiểu số trên địa bàn nghiên cứu có sự thay đổi sâu sắc ở các nguồn vốn như con người, tài nguyên, tai chính, xã hội va vật chất về các mặt điều kiện sản xuất, cải thiện sức khỏe, giáo dục, y tế cộng đồng góp phan nâng cao đời sống của người dân. Dự án thé hiện rõ chủ trương đầu tư phát triển phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân, của cộng đồng nhưng cuộc sống của đồng bao dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Gia Lai vẫn đang còn gặp rất nhiều khó khăn, hoạt động sản xuất vẫn chưa đa dạng và hiệu quả.
Tuy đã được áp dụng các nội dung cải thiện sinh kế của dự án Phát trién Lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên, cuộc sống có hướng đổi mới song vẫn còn rất nhiều bất cập. Qua cuộc điều tra, phần nhiều hộ dân theo truyền thống gia đình làm nghề nông lâu đời nên không muốn thay đổi và tiếp thu những nghề khác, các hộ vẫn chưa tự lực giảm nghẻo, còn phụ thuộc quá nhiều vào các chương trình. Đỗ Đăng Téo và Anchana NaRanong (2019) đã nghiên cứu sinh kế và tác động môi trường của việc chi trả cho các dich vụ môi trường rừng của các khu bảo tồn tại tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu khảo sát 725 hộ gia đình trong vùng đệm của 7 khu bao tồn của các tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên Huế ở miền Trung Việt Nam và dữ liệu từ Tổng cục Thống kê và Landsat.
Nghiên cứu cho thấy chính sách PFES có một số tác động tích cực đến các van đề kinh tế và môi trường cho các nhóm khác nhau.