CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN 1. Các khái niệm có liên quan 1. Lao động Theo bộ luật lao động năm 2019, người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. Lực lượng lao động là một bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang làm việc và những người thất nhiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
Lao động nông thôn là một bộ phận của dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trọng độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, có khả năng tham gia vào thị trường lao động ở khu vực nông thôn, miền núi dưới các hình thức tự làm việc, tự tạo việc làm hoặc làm việc dưới sự quản lý của các chủ sử dụng lao động theo hình thức có hợp đồng lao động hoặc không nhưng đều được trả thù lao lao động. Với vai trò là lực lượng đông đảo trong nền kinh tế, người lao động nông thôn có các đặc điểm sau: tham gia lao động sớm cùng gia đình, được rèn luyện thường xuyên trong môi trường lao động nên họ có ưu thế về sức khỏe, khả năng lao động tốt, kế thừa truyền thống cần cù siêng năng. Trong lao động sản xuất và hoạt động xã hội họ có tinh thần đổi mới, thích nghi với sự thay đổi của môi trường xã hội; lao động nông thôn chiếm tỉ lệ lớn trong lực lượng lao đông của cả nước, là nguồn nhân lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cùng các lực lượng lao động khác tham gia vào quá trình xây dựng đất nước. 6 Bên cạnh những ưu điểm trên, lao động nông thôn còn có một số hạn chế lớn so với các lực lượng lao động tại đô thị: Lực lượng lao động nông thôn ít có điều kiện học tập nên trình độ thấp, không có trình độ chuyên sâu như lao động trong các ngành công nghiệp và một số ngành khác; Bên cạnh đó, phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm và sức khỏe, tổ chức lao động đơn giản… Lực lượng chuyên sâu, lành nghề, lao động chất xám không đáng kể, phân bố lao động không đồng đều, vì vậy mà hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu công nghiệp hiện đại vào sản xuất… đây là những rào cản không nhỏ đối với họ khi tham gia vào quá trình tìm và tạo việc làm.
Việc làm Việc làm là một trong những vấn đề cơ bản nhất của mọi quốc gia, mọi địa phương nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau và ở mỗi quốc gia khác nhau ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp…quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế: Bất kỳ nghề nào, việc gì cần thiết cho xã hội, mang lại thu nhập cho người lao động để nuôi sống bản thân và gia đình, không bị pháp luật ngăn cấm, đó là việc làm.
Tại luận văn này học viên sử dụng khái niệm việc làm được quy định tại Bộ Luật Lao động năm 2019 của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Khoản 1, Điều 9, Chương II chỉ rõ: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Vậy hoạt động được gọi là việc làm khi thỏa mãn các điều kiện sau: Một là, hoạt động có ích và phải tạo ra thu nhập cho chính bản thân người lao động hoặc cho gia đình của người lao động hoạt động này được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật. 7 Hai là, hoạt động không bị pháp luật cấm. Người lao động có thể làm bất cứ việc gì trong khuôn khổ cho phép của pháp luật để đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình, xã hội nhưng không được trả công cho công việc đó.
Hai hoạt động nêu trên có quan hệ mật thiết với nhau, đây là điều kiện cần và đủ để mọi hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập nhưng bị pháp luật cấm như: buôn bán trái phép chất ma túy, buôn hàng lậu…thì không được thừa nhận là việc làm. Trái lại, hoạt động tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật nhưng không tạo ra thu nhập như hoạt động từ thiện cũng không được coi là việc làm. Từ những nghiên cứu trên, việc làm có thể được hiểu như sau: Việc làm là các hoạt động mang lại thu nhập cho người lao động, không bị pháp luật cấm, bao gồm các công việc được trả công dưới dạng tiền mặt hoặc hiện vật và các công việc tự làm để tạo thu nhập cho bản thân và gia đình.
Để hiểu toàn diện về việc làm, ta cần có làm rõ khái niệm người có việc làm, thiếu việc làm và thất nghiệp Có việc làm: Khái niệm người có việc làm được Tổ chức Lao động quốc tế sử dụng là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, trong tuần lễ liền kề trước thời điểm điều tra có thời gian làm việc không ít hơn một mức chuẩn quy định. Khái niệm người có việc làm như trên có thể khác nhau giữa nước này và nước khác phụ thuộc vào quốc gia đó quy định mức chuẩn để được coi có việc làm là bao nhiêu. Ở Việt Nam, người có việc làm là những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, đang làm việc để nhận tiền lương (tiền công), hoặc đang làm công việc dịch vụ cho bản thân, gia đình và các việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình. Thiếu việc làm: Thiếu việc làm được hiểu là trạng thái trung gian giữa có việc làm đầy đủ và thất nghiệp.
Đó là tình trạng có việc làm, nhưng do nguyên 8 nhân khách quan, ngoài ý muốn của người lao động, hoặc phải làm việc không hết thời gian theo luật định hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, không đủ sống muốn tìm thêm việc làm bổ sung. Thất nghiệp: Thất nghiệp là hiện tượng của những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc nhưng hiện tại không tìm kiến được việc làm. Người thất nghiệp bao hàm cả những người đang chờ đợi trở lại làm việc và không được trả lương. Người thất nghiệp, theo khái niệm dùng trong Điều tra lao động việc làm hàng quý do Tổng cục Thống kê Việt Nam tiến hành được định nghĩa là người đủ 15 tuổi trở lên thuộc nhóm dân số hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm và có nhu cầu làm việc nhưng không tìm được việc.
Thất nghiệp được chia thành nhiều loại: - Căn cứ vào thời gian thất nghiệp, người thất nghiệp được chia thành: Thất nghiệp ngắn hạn và thất nghiệp dài hạn, trong đó: + Thất nghiệp ngắn hạn: Là thất nghiệp liên tục từ dưới 12 tháng tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ thời điểm điều tra trở về trước. + Thất nghiệp dài hạn: Là người thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ thời điểm điều tra trở về trước. - Trong phân loại cơ cấu các thị trường lao động hiện nay, thất nghiệp phân ra thành 3 loại khác nhau: Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp có tính cơ cấu và thất nghiệp theo chu kỳ. + Thất nghiệp tạm thời: Do sự di chuyển không ngừng của người lao động giữa các vùng, các công việc hoặc là các giai đoạn ngắn của cuộc sống.
Tình trạng thất nghiệp tạm thời diễn ra ngay trong nền kinh tế có đầy đủ việc làm vẫn luôn có một số chuyển động nào đó do người lao động thường đi tìm việc làm khi tốt nghiệp các trường, hoặc chuyển đến một nơi sinh sống mới. Tình trạng phụ nữ có thể quay trở lại tham gia lao động sau khi có con. + Thất nghiệp có tính cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động trên thị trường lao động, sự mất cân đối này có thể diễn ra vì mức 9 cầu đối với một loại lao động tăng lên trong khi mức cầu đối với một loại lao động khác giảm đi, trong khi đó mức cung không được điều chỉnh nhanh chóng. + Thất nghiệp chu kỳ là tình trạng thất nghiệp xảy ra khi có sự giảm sút của hoạt động kinh doanh trong giai đoạn suy thoái hay đình trệ của chu kỳ kinh doanh.
Theo Bộ Lao động -Thương binh và xã hội: Người bị coi là thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, hiện tại đang đi tìm việc làm hay không đi tìm việc làm và những người trong tuần lễ trước thời điểm điều tra có tổng sổ giờ làm việc dưới 8 giờ, có mong muốn và sẵn sàng làm thêm giờ nhưng không tìm ra việc. Tạo việc làm cho người dân - Khái niệm tạo việc làm Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Khoa kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực – Trường Đại học KT&QTKD Hà Nội “Tạo việc làm được hiểu là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động” (Trần Đình Chín, 2014). Tạo việc làm cho người lao động theo nghĩa chung nhất được hiểu là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất nhằm tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường. Do đó để khái quát một cách đầy dủ về tạo việc làm cần bao hàm các hoạt động sau: (1) tạo ra tư liệu sản xuất tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất, biểu hiện rõ nhất là vốn; (2) tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động số lượng sức lao động phải phù hợp, chất lượng sức lao động không ngừng được nâng cao để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế; (3) hình thành môi trường kinh tế- chính trị- xã hội cho sự kết hợp hai yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất.