CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN NGHIÊN cứu VÀ co SỞ LÝ LUẬN VÈ TỐ CHỨC KẾ TOÁN THEO MÔ HÌNH Tự CHỦ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ Sự NGHIỆP CÔNG LẠP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, xu hướng các trường đại học được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm là phổ biến và tất yếu. Do vậy, tự chủ đại học nói chung và TCTC nói riêng đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu và nhà quản trị đại học.
Liên quan đến vấn đề TCTC đối với đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) giáo dục và đào tạo, trên thế giới cũng đà có những công trình nghiên cứu, thể hiện tầm quan trọng và sự cần thiết cùa vấn đề này đối với các ĐVSN nói chung và các ĐVSN giáo dục đào tạo nói riêng. Có thể kề đến một số công trình nghiên cứu cơ bản như sau: Esterman, T.B (2011) cho rằng các nhân tố liên quan đến TCTC bao gồm: Cơ chế quản lý, kiểm soát, cách tài trợ ngân sách. Sự năng động, sáng tạo, cơ cấu tổ chức, hình thức pháp lý, quyền sở hữu, trách nhiệm giải trình, sự đa dạng nguồn tài chính của các trường. (2011) các nguồn tài chính của nhà trường, bao gồm: tài trợ công, thu phí, học phí, hợp đồng với khu vực tư nhân, doanh nghiệp và các tổ chức khác; hoạt động từ thiện, thương mại, cung cấp dịch vụ và thu khác ( như tiền thuê cơ sở vật chất, phục vụ nhà ở, càng tin, thư viện, trông giữ xe); thu nhập từ hoạt động tài chính.
Trong cơ cấu nguồn thu, tài trợ công chiếm đa số (tới 75% ở đại học Châu Âu). Tài trợ công cấp theo cơ chế khoán, nhiều trường được tự quyết định mức thu học phí. Hammad và các cộng sự (2010), Hệ thống kế toán quản lý bệnh viện: khung nghiên cứu; Nathan Carroll và Justin c. Lord (2016), Tầm quan trọng ngày càng tăng của kế toán chi phí cho bệnh viện.
Qua việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, các tác giả đã đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả của 5 hệ thông quản lý trên cơ sở sử dụng phương pháp kê toán hợp lý nhăm nâng cao hiệu quả quản lý trong ngành Y tế nói chung và các bệnh viện nói riêng.Hauptman (2006), Tài chính cho giáo dục đại học, xu hướng và vấn đề, Kỷ yếu Hội thảo giáo dục. Viện Nghiên cứu Giáo dục. Bài viết tập trung chủ yếu vào một trong những vấn đề nổi bật nhất của tài chính đại học ở không chỉ các nước phát triển và cả các nước kém phát triển khắp thể giới trong thập kỷ qua. Trong đó đề cập đến những bất cập giữa sự tăng trưởng số lượng sinh viên nhập học và khả năng của ngân sách công cũng như ngân sách tư nhân trong việc đáp ứng nguồn tài chính cho sự gia tăng đó.
Đòi hỏi việc phải tãng cường tính trách nhiệm, tư nhân hóa theo cơ chế thị trường. Các nghiên cứu trong nước ở nước ta, trong những năm gần đây cũng có khá nhiều nghiên cứu được công bố liên quan đến tổ chức công tác kể toán trong các ĐVSNCL, trong đó có các nghiên cứu về các đơn vị sự nghiệp là khối ngành giáo dục đào tạo. Đặng Thị Thủy, 2021, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 6/2021, “Đẩy mạnh cơ chế tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập”. Bài viết đã khái quát lại quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về cơ chế tự chù cùa các ĐVSNCL giai đoạn vừa qua nhằm làm nổi bật những kết quả cũng như hạn chế, tồn tại, những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ cùa các ĐVSNCL.[20] Trần Đức Chung, 2016, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 7/2016, “Kế toán quản trị đối với ĐVSNCL trong nền kinh tế hội nhập” đã đề cập đến việc cung cấp thông tin kế toán cho nhà quản lý của ĐVSNCL.
Bài viết cũng nêu lên tầm quan trọng cùa kế toán quản trị trong công tác kế toán và công tác quản lý kinh tế tài chính của một đơn vị. Trong đó việc tính đúng, tính đủ các yếu tố đầu vào và tổ chức tốt công tác thu thập, xử lý, phân tích, cung cấp thông tin để phục vụ yêu càu quản lý có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các ĐVSNCL có thu. Tác giả cũng đã nêu lên những tồn tại cần phải cải thiện của kế toán quản trị ảnh hương đến toàn bộ công tác kế toán cùa ĐVSNCL.[21 J Nguyễn Hồng Liên, 2019, đề tài khoa học “Đổi mới công tác quản lý tài chính thực hiện cơ chế tự chủ tài chính phục vụ yêu cầu đối mới căn bản và toàn 6 diện giáo dục đại học của Đảng và Nhà nước”. Đê tài đã chỉ ra thực tiên vê công tác tự chủ tài chính đối với ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo.
Từ đó đánh giá thực trạng công tác tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục tại đơn vị giáo dục cụ thể (các trường đại học thành viên của Đại học Thái Nguyên). Đề tài đưa ra một số giải pháp nâng cao công tác tự chủ tài chính tại các đơn vị cụ thể này. [22] Trương Thị Huyền Trang, 2019, luận văn thạc sĩ kế toán “ Tồ chức kế toán theo yêu cầu tự chủ tài chính tại Bệnh viện c Đà Nằng”. Thông qua luận văn, tác giả đà tìm hiểu, đánh giá thực trạng tổ chức kế toán tại Bệnh viện c Đà Nằng trong việc đáp ứng nhu cầu quản lý trong bối cảnh TCTC, từ đó tìm ra được những mặt còn tồn tại, đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện tố chức kế toán tại đơn vị nhằm đáp ứng nhu cầu TCTC của mình.
[16] Đinh Huy Trường, 2019, luận vàn thạc sĩ “ Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong cơ chế tự chủ tài chính của trường Đại học Hà Nội”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã giới thiệu vấn đề nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại ĐVSN có thu. Thông qua việc khảo sát thực trạng về tổ chức công tác kế toán tại trường Đại học Hà Nội, tác giả đã phân tích những ưu điểm, những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại trong tổ chức công tác kế toán của Nhà trường, trên cơ sở đỏ đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Nhà trường.[6] Lê Thị Minh Hằng, 2016, luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác kế toán tại Đại học Lao động Xã hội”. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác kế toán trong các ĐVSN có thu.
Kết hợp với việc phân tích thực trạng công tác kế toán tại trường Đại học Lao động Xã hội đế qua đó xác định được nhừng tồn tại, khúc mắc trong công tác hạch toán và cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho công tác quyết toán và quản lý, điều hành tại cơ sở giáo dục này. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại trường Đại học Lao động Xã hội.[9] Vũ Bích Thủy, 2015, luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán theo mô hình đơn vị TCTC tại trường Đại học Công đoàn”. Luận vàn đã trình bày một cách có hệ thống và toàn diện về công tác quản lý tài chính và tổ chức công tác kế toán trong các ĐVSN. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã phân tích, đánh giá 7 thực trạng công tác quản lý tài chính và tô chức công tác kê toán, qua đó thây được những ưu điểm và mặt còn tồn tại, hạn chế, những nguyên nhân dẫn đến các mặt tồn tại đó.
Sau đó tác giả đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán nhằm phát huy hơn nữa tính TCTC tại đơn vị nghiên cứu. Khoảng trống nghiên cún Như vậy, xu hướng TCTC tại các ĐVSNCL nói chung và trong các cơ sở giáo dục - đào tạo nói riêng đang là xu hướng phổ biến, thể hiện được tính ưu việt trong việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các ĐVSN về các vấn đề như tổ chức bộ máy, biên chế., đặc biệt là vấn đề TCTC, nguồn thu và các khoản chi, kéo theo đó là việc các đơn vị cần phải có tổ chức kế toán phù hợp với mô hình TCTC. Tuy nhiên, qua quá trình tồng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, chưa có một công trình nào nghiên cứu về nội dung này tại trường CĐN số 1 - BQP, vì vậy, tôi đã chọn thực hiện đề tài “Tổ chức kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng nghề số 1 Bộ Quốc Phòng” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình. Cơ sở lý luận về tổ chức kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại đơn vị sự ve e e e e nghiệp công lập 1.
Khái niệm và vai trò tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm về mặt lý luận cũng như thực tiễn cho thấy đối với bất kỳ một đơn vị, một tổ chức, doanh nghiệp nào thi hoạt động tài chính là hoạt động trung tâm, là hoạt động then chốt bởi vì nó là hoạt động nhằm bảo đảm những điều kiện vật chất cho đơn vị, tố chức, doanh nghiệp đó phát triến. Cho nên nội dung cơ chế TCTC đóng vai trò rất quan trọng, nó góp phần tạo ra môi trường pháp lý cho các cơ sở hoạt động với tư cách là một chủ thể nhằm huy động tối đa các nguồn lực tiền tệ, phi tiền tệ và sử dụng các nguồn lực này một cách hiệu quả, đáp ứng tốt nhất cho việc thực hiện nhiệm vụ, sứ mạng cùa mình. Vì vậy, cơ chế TCTC cần chứa đựng đầy đủ các quy định vừa mang tính khái quát, vừa mang tính cụ thề để các cơ sở giáo dục được quyền quyết định hoạt động tài chính phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.
TCTC là một khái niệm được sử dụng khi quan tâm đồng thời tới cả vấn đề tài chính và quyền tự chủ, trong đó tài chính là các nguồn lực tiền tệ (NSNN cấp, 8 nhận tài trợ, các khoản thu hợp pháp khác) và nguôn lực phi tiên tệ (nguôn nhân lực, uy tín, thương hiệu.), còn tự chủ là quyền chủ động của các cơ sở giáo dục ĐHCL trong việc tự quản lý và sử dụng các nguồn lực này.