CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS 1.1 Tổng quan về kế toán quản trị 1.1 Định nghĩa kế toán quản trị Có nhiều quan niệm khác nhau về kế toán quản trị do tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Các khái niệm được sử dụng phổ biến hiện nay như: - Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) năm 1989 đưa ra định nghĩa: “Kế toán quản trị là quy trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và truyền đạt thông tin cho nhà quản trị để lập kế hoạch, đánh giá theo dõi việc thực hiện trong phạm vi nội bộ một tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của tổ chức”. - Viện kế toán viên Hoa Kỳ (IMA) năm 2008 đưa ra định nghĩa: “Kế toán quản trị là một nghề có liên quan đến việc hỗ trợ ra quyết định, xây dựng và triển khai kế hoạch và hệ thống quản lý kết quả thực hiện, cung cấp chuyên môn về tình hình tài chính, kiểm soát để hỗ trợ quản lý trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược tổ chức.Bouquin đại học Paris – Dauphin, trường phái kế toán quản trị của Pháp: “Kế toán quản trị là một hệ thống thông tin định lượng cung cấp cho các nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành các tổ chức nhằm đạt hiệu quả cao”. [15] - Theo luật kế toán Việt Nam được quốc hội khóa 11 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
[16] Qua các định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị cho thấy kế toán quản trị có những đặc điểm sau: - Là một hệ thống kế toán cung cấp các thông tin định lượng. - Đối tượng sử dụng thông tin là nhà quản trị nội bộ doanh nghiệp. 8 - Thông tin kế toán quản trị phục vụ chủ yếu cho việc thực hiện tốt các chức năng của nhà quản trị doanh nghiệp.2 Vai trò của kế toán quản trị Chất lượng của các quyết định quản trị phụ thuộc vào quá trình xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác, do đó nếu thông tin sai sẽ dẫn đến quyết định sai nên kế toán quản trị cần cung cấp thông tin cho người quản lý một cách có hiệu quả. Vai trò của kế toán quản trị: - Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch và dự toán: lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt được và cách thực hiện để đạt mục tiêu đó, kế hoạch mà nhà quản trị đặt ra thông thường là các dự toán như dự toán giá bán, dự toán doanh thu, dự toán tiền… Nhà quản trị cần nắm các thông tin này để định hướng hoạt động cho từng bộ phận, từ đó thông tin kế toán giúp họ có thể sử dụng tối ưu các nguồn lực.
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện: nhà quản trị cần liên kết chặt chẽ giữa yếu tố con người và nguồn lực để có kế hoạch hiệu quả, và nhờ có thông tin của kế toán quản trị để dễ dàng đưa ra quyết định đúng đắn trong quá trình lãnh đạo hàng ngày. - Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra và đánh giá: sau khi lập kế hoạch và thực hiện, nhà quản trị cần được cung cấp các báo cáo thực hiện nhằm phản hồi về vấn đề đã xảy ra như báo cáo biến động đến kết quả sản xuất và tiêu thụ, từ đó tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng. Như vậy thông tin kế toán giúp nhà quản trị thấy được bản chất vấn đề và đưa ra giải pháp để điều chỉnh cho hợp lý để sử dụng tối ưu nguồn lực. - Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: ra quyết định là sự kết hợp của cả ba chức năng lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá.
Để có được thông tin thích hợp cho quá trình ra quyết định kế toán quản trị phải chọn lọc những thông tin cần thiết, thích hợp rồi tổng hợp, phân tích cho nhà quản trị. Từ đó góp phần đổi mới, cải tiến công tác quản lý của doanh nghiệp, tất cả các nguồn lực của doanh nghiệp đều được kế toán đo lường, định lượng thành các chỉ tiêu kinh tế, biểu hiện dưới hình thức giá trị, nhằm cung cấp thông tin có giá trị cho chức năng kiểm tra và đánh giá. Quá trình kiểm tra và đánh giá kết quả 9 hoạt động kinh doanh nhằm để nhận biết tiến độ thực hiện và những nguyên nhân sai lệch giữa kết quả so với mục tiêu đề ra, từ đó phát hiện những thay đổi có thể xảy ra, ngoài ra nó còn là cơ sở để ra các giải pháp tiến hành trong tương lai giúp doanh nghiệp phát hiện các tiềm năng cần phải được khai thác, phát hiện những tồn tại yếu kém.3 Nội dung của kế toán quản trị 1.1 Hệ thống kế toán chi phí a. Khái niệm chi phí và phân loại chi phí Chi phí là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức để đạt được một mục đích nào đó.
Chi phí sản xuất là những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh gắn liền với quá trình sản xuất. Chi phí sản xuất phát sinh liên tục, khách quan, đa dạng theo từng loại hình sản xuất. Có nhiều cách phân loại chi phí phát sinh trong một DN, mỗi cách phân loại sẽ mang lại một công dụng khác nhau trong việc cung cấp thông tin cho nhà quản lý: - Theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền. - Theo chức năng hoạt động: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
- Theo mối quan hệ với thời kỳ xác định lợi nhuận: chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. - Theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. - Theo cách ứng xử của chi phí: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp. Các mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Bao gồm: - Mô hình theo chi phí thực tế: mô hình này đảm bảo tính chính xác giá thành sản phẩm vì các chi phí sản xuất thực tế được tập hợp sau quá trình sản xuất hoàn thành, do đó giá thành sản phẩm thể hiện chi phí sản xuất trong quá khứ, 10 rất phù hợp với thông tin theo yêu cầu, nguyên tắc và chuẩn mực kế toán khi trình bày trên báo cáo tài chính.
Tuy nhiên, thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản xuất cung cấp cho nhà quản trị không được nhanh chóng và kịp thời để phục vụ cho quá trình quản lý và ra các quyết định kinh doanh. - Mô hình theo chi phí thực tế kết hợp chi phí ước tính: theo mô hình này giá thành sản phẩm được xác định vừa trên chi phí thực tế phát sinh vừa dựa trên cơ sở ước tính, trong đó chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp dựa trên chi phí thực tế, còn chi phí sản xuất chung được ước tính phân bổ. Cuối kỳ tiến hành xử lý chênh lệch chi phí sản xuất chung do tập hợp theo chi phí thực tế nhưng đã phân bổ theo chi phí ước tính. Thông tin về giá thành sản phẩm của mô hình này có thể được tính ở bất kỳ thời điểm nào nên có thể cung cấp thông tin một cách kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định kịp thời của nhà quản lý.
- Mô hình theo chi phí định mức: theo mô hình này thì việc tính giá thành sản phẩm dựa vào các định mức tiêu hao về vật tư, lao động; dự toán về chi phí phục vụ sản xuất. Cuối kỳ, dựa vào những chi phí thực tế phát sinh trong kỳ kế toán để so sánh với chi phí định mức kế toán sẽ xác định khoản chênh lệch do thay đổi định mức, tìm ra nguyên nhân chênh lệch và đưa ra các biện pháp xử lý. Yêu cầu của mô hình này là doanh nghiệp phải thiết lập được hệ thống định mức kinh tế, kỹ thuật hoàn chỉnh, phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị và trung bình chung của ngành đồng thời có hệ thống hạch toán được thiết kế tương ứng có khả năng cung cấp thông tin nhanh nhạy và có độ tin cậy cao. Xây dựng một hệ thống chỉ tiêu định mức theo tiêu chuẩn là một công việc mang tính nghệ thuật cao.
Trách nhiệm xây dựng các định mức chi phí không chỉ thuộc về nhân viên KTQT mà cả những nhà quản trị hiểu rõ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức. Việc phân tích kết quả thực hiện so với định mức của các yếu tố sản xuất thành các nhân tố giá và lượng nhằm đánh giá các yếu tố chi phí đã biến động như thế nào: + Biến động về giá phản ánh giá của một đơn vị nguyên liệu hay giá của một đơn vị thời gian để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đã thay đổi như thế nào. 11 + Biến động về lượng phản ánh tiêu hao vật chất và lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một sản phẩm thay đổi như thế nào. Biến động xảy ra do nhiều yếu tố tác động, vừa chủ quan vừa khách quan, có thể do chính quá trình sản xuất của doanh nghiệp hoặc do biến động của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
Muốn đạt được LN cao đòi hỏi DN phải kiểm soát được chi phí, nguyên nhân của sự biến động chi phí để có giải pháp kịp thời nhằm sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả.2 Dự toán ngân sách Dự toán ngân sách là những tính toán, dự kiện một cách toàn diện mục tiêu kinh tế, tài chính mà doanh nghiệp cần đạt được trong kỳ hoạt động, đồng thời chỉ rõ cách thức và biện pháp huy động nguồn lực để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đó. Dự toán ngân sách là cơ sở để đánh giá thành quả hoạt động của từng bộ phận, từ đó xác định trách nhiệm của từng bộ phận nhằm phục vụ tốt cho quá trình hoạch định, tổ chức và kiểm soát.