CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG MÁY VI TÍNH .1 - Vai trò, nhiệm vụ, ý nghĩa và yêu cầu của tổ chức công tác kế toán trong quản lý doanh nghiệp.1 - Một số khái niệm về Kế toán Kế toán là công cụ phục vụ quản lý kinh tế, gắn liền với hoạt động quản lý và xuất hiện cùng với sự hình thành đời sống kinh tế xã hội loài người. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, kế toán - một môn khoa học cũng đã có sự thay đổi, phát triển không ngừng về nội dung, phương pháp… để đáp ứng được yêu cầu quản lý ngày càng cao của nền sản xuất xã hội. Trong các tài liệu, sách kinh tế có thể gặp những định nghĩa, nhận thức về kế toán ở những phạm vi, góc độ khác nhau. Giáo sư, tiến sỹ Robet Anthony - một nhà nghiên cứu lý luận kinh tế nổi tiếng của trường đại học Harward của Mỹ cho rằng: “Kế toán là ngôn ngữ kinh doanh”.
Giáo sư, tiến sỹ Grene Allen Gohlke của Viện đại học Wisconsin lại định nghĩa: “Kế toán là một khoa học liên quan đến việc ghi nhận, phân loại, tóm tắt và giải thích các nghiệp vụ tài chính của một tổ chức, giúp cho Ban giám đốc có thể căn cứ vào đó đề ra các quyết định kinh tế”. Trong cuốn sách “Nguyên lý kế toán Mỹ”, Ronnanld.Thacker nêu quan điểm của mình về kế toán xuất phát từ việc cung cấp thông tin cho công tác quản lý.Thacker thì: “Kế toán là một phương pháp cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý có hiệu quả và để đánh giá hoạt động của mọi tố chức”. Nguyễn Ngọc Bách 3 K43/21.10 Luan van Luận văn tốt nghiệp Các tổ chức kế toán, kiểm toán quốc tế cũng nêu ra những khái niệm về kế toán như sau: Theo uỷ ban thực hành Kiểm toán Quốc tế (International Auditing Practices Committee) thì: “Một hệ thống kế toán là hàng loạt các loại các nhiệm vụ ở một doanh nghiệp mà nhờ hệ thống này các nghiệp vụ được xử lý như một phương tiện duy trì các ghi chép tài chính”. Khi định nghĩa về Kế toán, Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) cho rằng: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp một cách riêng có bằng những khoản tiền, các nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó”.
Trong điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước ban hành theo QĐ số 25- HĐBT(nay là chính phủ) cũng có khẳng định: “Kế toán là công cụ quan trọng để tính toán, xây dựng và kiểm tra việc chấp hành quản lý các hoạt động, tính toán kinh tế và kiểm tra việc bảo vệ, sử dụng tài sản, vật tư tiền vốn nhằm bảo vệ chủ động trong sản xuất, kinh doanh và chủ động tài chính cho tổ chức, xí nghiệp…”. Trong luật kế toán có nêu: “Kế toán là việc thu thập xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”. Các khái niệm kế toán nêu trên cho ta thấy được những nhận thức, quan niệm về kế toán ở những phạm vi, góc độ khác nhau nhưng gắn liền kế toán với công việc phục vụ cho công tác quản lý. Do vậy, kế toán là công cụ không thể thiếu được trong hệ công cụ quản lý kinh tế, kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về Tài sản và sự vận động của tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong các đơn vị, nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị.2 Vai trò của Kế toán tài chính trong công tác quản lí.
Mục đích của kế toán tài chính là thu thập xử lý, cung cấp thông tin cần thiết cho các đối tượng sử dụng khác nhau với mục đích khác nhau để ra được Nguyễn Ngọc Bách 4 K43/21.10 Luan van Luận văn tốt nghiệp các quyết định quản lý phù hợp. Qua đó nói lên vai trò quan trọng của kế toán tài chính trong công tác quản lý vi mô và vĩ mô của nhà nước. Cụ thể như sau: Sản phẩm cuối cùng của kế toán tài chính là hệ thống báo cáo tài chính, trong đó chứa đựng những thông tin cần thiết cho các đối tượng sử dụng đề ra được các quyết định quản lý phù hợp với mục đích sử dụng thông tin của mình. Các đối tượng sử dụng thông tin do kế toán tài chính xử lý, tổng hợp cung cấp có thể chia thành: - Các nhà quản lý doanh nghiệp.
- Những đối tượng có lợi ích trực tiếp. - Những đối tượng có lợi ích gián tiếp. Các nhà quản lý doanh nghiệp: Chủ doanh nghiệp, Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, trong quá trình ra quyết định quản lý họ sẽ nghiên cứu những thông tin trình bày trên các báo cáo kế toán để tìm ra những câu trả lời cho những câu hỏi khác nhau: - Năng lực sản xuất của đơn vị như thế nào? - Đơn vị SXKD có lãi hay không? - Tình hình công nợ và khả năng thanh toán công nợ? - Hàng tồn kho nhiều hay ít? - Quy mô sản xuất nên thu hẹp hay mở rộng? - Có nên chuyển hướng kinh doanh hay không? - Có thể tăng giá trị sản phẩm hay sản xuất giới thiệu sản phẩm mới hay không? ……. Như vậy, thông qua các thông tin trên báo cáo tài chính cung cấp, các nhà quản lý doanh nghiệp biết được tình hình sử dụng các loại tài sản, lao động vật tư tiền vốn, tình hình chi phí và kết quả hoạt động SXKD… nhằm phục vụ cho việc điều hành, quản lý kịp thời cũng như việc phân tích, đánh giá tình hình, kết quả hoạt động SXKD, tính hiệu quả, đúng đắn của những giải pháp quản lý đó đề ra và thực hiện trong quá trình SXKD… nhằm phục vụ cho việc điều hành, quản lý kịp thời cũng như việc phân tích, đánh giá tình hình kết quả hoạt động Nguyễn Ngọc Bách 5 K43/21.10 Luan van Luận văn tốt nghiệp sản xuất kinh doanh cúa doanh nghiệp từ đó mà đề ra các biện pháp, quyết định phù hợp về phương hướng phát triển cúa doanh nghiệp.
Những đối tượng có lợi ích trực tiếp đối với thông tin do kế toán cung cấp là các chủ đầu tư, chủ nợ, các cổ đông, những đối tác liên doanh. Căn cứ vào thông tin kế toán của doanh nghiệp họ có thể ra được những quyết định đầu tư, cho vay, góp vốn nhiều hay ít, đầu tư vào lĩnh vực nghành nghề nào, chính sách đầu tư ra sao?. Các chủ nợ cũng ra được các quyết định cho vay phù hợp với đặc điểm, tình hình và sự phát triển của doanh nghiệp thông qua các thông tin trên báo cáo kế toán của doanh nghiệp, họ quyết định cho vay nhiều hay ít,vay với điều kiện lãi suất như thế nào, các chủ hàng có bán hàng cho doanh nghiệp theo phương thức trả chậm hay không? Những đối tượng có lợi ích gián tiếp tới thông tin kế toán, đó là các cơ quan quản lý chức năng: Thuế, tài chính, thống kê… Chính phủ…Các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước dựa vào thông tin do kế toán tài chính cung cấp để kiểm tra, giám sát hoạt động SXKD của các doanh nghiệp để kiểm tra việc chấp hành, thực hiện các chính sách, chế độ về quản lý kinh tế tài chính, để quản lý và điều hành thống nhất toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Cũng trên cơ sở các thông tin kế toán tài chính của các doanh nghiệp mà các cơ quan quản lý chức năng, các cơ quan ban hành chính sách, chế độ tổng hợp nghiên cứu hoàn thiện các chính sách chế độ quản lý hiện hành và đề ra những chính sách, chế độ thích hợp nhằm thực hiện các kế hoạch đường lối phát triển nhanh chóng và toàn diện nền kinh tế quốc dân.3 Nhiệm vụ của Kế toán tài chính doanh nghiệp Điều 5 Luật kế toán quy định các nhiệm vụ của kế toán bao gồm: - Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán.
- Kiểm tra, giám sát các khoản thu chi tài chính các nghĩa vụ thu, nộp thanh toán nợ, kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài Nguyễn Ngọc Bách 6 K43/21.10 Luan van Luận văn tốt nghiệp sản, phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán. - Phân tích thông tin, số liệu kế toán, tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán. - Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các nghiệp vụ quy định cho kế toán nói chung, kế toán tài chính doanh nghiệp xác định các nhiệm vụ cụ thể phù hợp với chức năng.
Yêu cầu của kế toán tài chính trong doanh nghiệp.4 Yêu cầu của Kế toán tài chính doanh nghiệp Để phát huy vai trò quan trọng trong công tác quản lý, cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng, kế toán phải đảm bảo được những yêu cầu quy định tại điều 6 Luật Kế toán, gồm 6 yêu cầu sau: - Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính. - Phản ánh kịp thời, đúng thời gian quy định thông tin, số liệu kế toán. - Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thông tin, số liệu kế toán. - Phản ánh trung thực hiện trạng bản chất sự việc nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế tài chính.
- Thông tin, số liệu kế toán phải liên tục. - Phân loại sắp xếp thông tin số liệu kế toán theo trình tự, hệ thống. Nội dung của Điều 6 Luật kế toán cũng thể hiện về các yêu cầu cơ bản của kế toán quy định tại CMKTVN số 01 “ Chuẩn mực chung” đó là: Trung thực; khách quan; đầy đủ; kịp thời; dễ hiểu và có thể so sánh được.2 Nguyên tắc, nội dung tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp.3 Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán. Để phát huy chức năng và vai trò quan trọng trong công tác quản lý hoạt động SXKD của các doanh nghiệp, đòi hỏi phải tổ chức công tác Kế toán tài chính khoa học, hợp lý nhằm cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy đủ và Nguyễn Ngọc Bách 7 K43/21.