Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Chương 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Ojitex Hải Phòng. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Ojitex Hải Phòng. 2 SV: Phạm Hồng Ngân – Lớp QTL 602K Khóa Luận Tốt Nghiệp CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.
Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất Chi phí là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, tài sản, sự phát triển của doanh nghiệp. Bởi lẽ, trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phải đầu tư các loại chi phí khác nhau một cách thường xuyên và liên tục để tạo ra khối lượng sản phẩm, lao vụ, công việc phục vụ mục đích hoạt động của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Có thể hiểu một cách trừu tượng là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phải bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.
Hoặc có thể hiểu là những phí tổn về nguồn lực kinh tế, tài sản cụ thể sử dụng trong hoạt động sản xuất. Những nhận thức về chi phí có thể khác nhau về quan điểm hình thức thể hiện chi phí nhưng tất cả nhận thức đều thừa nhận bản chất của chi phí như sau: Chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm và đạt được mục đích là tạo ra được sản phẩm ở dưới mọi dạng có thể có được của nó. Xác định nội dung của chi phí sản xuất để thấy được bản chất của chi phí sản xuất là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quản lý chi phí sản xuất của các doanh nghiệp Hao phí về lao động sống: chính là sức lao động cụ thể hóa, là tiền lương và các khoản trích theo lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ. Chi phí được biểu hiện trên hai mặt: - Xét về định tính, chi phí được nhận thức là các yếu tố vật chất thưc tế bị hao tổn trong qúa trình sản xuất nhằm tạo ra một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định tùy theo mục đích cụ thể trong kinh doanh.
- Chi phí được định lượng bằng một lượng tiền chi ra, mức giảm sút của giá trị tài sản, khoản nợ thuế.những khoản phí tổn góp phần làm giảm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Thể hiện mối quan hệ giữa chi phí và tài sản, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. 3 SV: Phạm Hồng Ngân – Lớp QTL 602K Khóa Luận Tốt Nghiệp Do vậy, để duy trì hoạt động cho doanh nghiệp thì yếu tố chi phí sản xuất luôn cần được chú trọng. Sao cho, chi phí sản xuất một sản phẩm luôn nằm trong giới hạn bù đắp của doanh nghiệp để tái sản xuất.
Bản chất và chức năng của giá thành sản phẩm: 1. Bản chất của giá thành sản phẩm: Ngoài chi phí sản xuất sản phẩm, trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp còn phát sinh nhiều khoản chi phí khác nữa. Nghĩa là, sản phẩm làm ra đã kết tinh trong đó một khoản hao phí vật chất bao gồm chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ, chi phí quản lý. Đòi hỏi phải có chỉ tiêu giá thành sản phẩm để định lượng hao phí vật chất phát sinh để tạo ra sản phẩm Giá thành sản phẩm là những hao phí bằng tiền về lao động sống và lao động vật hóa cũng như chi phí bằng tiền khác để chuẩn bị sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, lao vụ.
Giá thành sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phí được bù đắp bằng thu nhập bán hàng. Nói cách khác, đó là toàn bộ các đầu vào của các yếu tố vật chất nhằm mục đích tạo ra những đầu ra tương ứng không phân biệt nó nằm trong bộ phận nào của các bộ phận thuộc giá trị sản phẩm. Giá thành sản phẩm là một đại lượng xác định, biểu hiện mối quan hệ giữa chi phí sản xuất bỏ ra và kết quả sản xuất đạt được. Chức năng của giá thành sản phẩm: Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý của các doanh nghiệp và của nền kinh tế.
Thông qua chỉ tiêu giá thành người ta có thể đánh giá được hiệu quả của quá trình sản xuất. Giá thành có các chức năng chủ yếu sau: * Chức năng thước đo bù đắp chi phí: Toàn bộ hao phí vật chất và lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm cần được bù đắp đầy đủ và kịp thời để phục vụ yêu cầu tái sản xuất. Đây là thước đo hiệu quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Bởi doanh nghiệp có muốn duy trì hoạt động thì trước tiên phần doanh thu phải bù đắp được phần chi phí mà mình đã bỏ ra sau đó mới tính đến khả năng sinh lời.
* Chức năng lập giá: giá thành và giá cả có quan hệ mật thiết với nhau, chi phối lẫn nhau. Giá thành là căn cứ để xác định giá cả của hàng hóa tiêu thụ, và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu giá cả. Yêu cầu đầu tiên khi xây dựng giá cả là giá cả phải có khả năng bù đắp hao phí vật chất đê sản xuẩt và tiêu thụ sản 4 SV: Phạm Hồng Ngân – Lớp QTL 602K Khóa Luận Tốt Nghiệp phẩm, bảo đảm cho các doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất bình thường có thể bù đắp được hao phí để thực hiện tái sản xuất. * Chức năng đòn bẩy kinh tế: Giá thành sản phẩm là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường.
Giá thành sản phẩm cùng với các phạm trù chất lượng sản phẩm, biến động của thị trường là những yếu tố căn bản quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm, tái sản xuất của doanh nghiệp. Để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh thì hạ thấp giá thành sản phẩm là biện pháp căn bản. Phân loại chi phí sản xuất: 1. Phân loại theo yếu tố chi phí ( nội dung kinh tế ): Chi phí sản xuất kinh doanh được qui đổi bao gồm các yếu tố: - Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm giá mua, chi phí mua của nguyên vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất.
Yếu tố này bao gồm các thành phần sau: + Chi phí nguyên vật liệu chính: Bao gồm giá mua và chi phí mua của những loại nguyên vật liệu chính được sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất. Loại nguyên vật liệu này thường cấu thành chủ yếu nên sản phẩm, chi phí của nó chiếm tỷ lệ chủ yếu trong giá thành sản phẩm. + Chi phí nguyên vật liệu phụ: Bao gồm giá mua, chi phí mua của những nguyên vật liệu dùng để kết hợp với nguyên liệu chính để cấu thành nên sản phẩm, hoặc những loại nguyên vật liệu dùng trong công việc hành chính văn phòng. Chi phí nguyên vật liệu phụ thường phát sinh trong tất cả hoạt động sản xuất, tiêu thụ, quản lý.
- Chi phí nhân công : Là yếu tố hao phí lao động sống phải bỏ ra để thực hiện việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. - Chi phí khấu hao Tài sản cố định: Là yếu tố chi phí bao gồm khấu hao của tất cả tài sản cố định, tài sản dài hạn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là yếu tố chi phí cấu thành nên giá trị sản phẩm được phát sinh bên ngoài doanh nghiệp. - Chi phí khác bằng tiền: Là chi phí khác bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên.
Phân loại theo khoản mục chi phí (theo công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh): Chi phí sản xuất được quy định bao gồm 3 khoản mục: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp vào sản xuất sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu chính, chi 5 SV: Phạm Hồng Ngân – Lớp QTL 602K Khóa Luận Tốt Nghiệp phí nguyên vật liệu phụ. Khoản mục chi phí này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí và đóng vai trò quyết định chi phí, giá thành sản phẩm dịch vụ. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dễ nhận biết, định lượng. - Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp,.
của công nhân trực tiếp thực hiện sản xuất sản phẩm, dịch vụ. Chi phí nhân công trực tiếp dễ nhận biết, định lượng chính xác. - Chi phí sản xuất chung: Bao gồm tất cả các chi phí sản xuất khác ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp như chi phí lao động gián tiếp, chi phí phục vụ, tổ chức quản lý tại phân xưởng. Chi phí sản xuất chung gồm nhiều khoản mục chi phí và đều có tính chất gián tiếp đối với sản phẩm được sản xuất.
Do đặc điểm không thể tính trực tiếp vào giá trị sản phẩm nên chi phí sản xuất chung sẽ được tính thông qua việc phân bổ. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động ( mô hình ứng xử chi phí ) Theo tiêu thức này, chi phí trong kỳ kế toán bao gồm chi phí cố định (định phí), chi phí khả biến (biến phí) và chi phí hỗn hợp. - Biến phí: Là chi phí thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động, có thể là số lượng sản phẩm sản xuất ra, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy vận hành; và tỷ lệ thuận chỉ trong một phạm vi hoạt động. - Định phí: Là những chi phí mà tổng số của nó ít hoặc không thay đổi theo mức độ hoạt động.
Khác với chi phí khả biến, chí phí cố định không bị ảnh hưởng bởi sản lượng sản xuất và tiêu thụ. Mức độ hoạt động có tăng hay giảm thì định phí vẫn không đổi. Tuy nhiên định phí chỉ thích hợp cho từng phạm vi nhất định. Nếu mức độ hoạt động vượt quá giới hạn nhất định, nó có thể bị thay đổi.
- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả biến phí và định phí.