phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn gồm có 03 chương: Chƣơng 1: Cở sở lý luận về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành với kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp sản xuất; Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành với kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh; Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành với tăng cường kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VỚI KIỂM SOÁT NỘI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. BẢN CHẤT CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP 1. Chi phí sản xuất 1.
Khái niệm chi phí sản xuất Để tiến hành hoạt động SXKD bất kỳ DN nào cũng cần có đủ ba yếu tố của quá trình SX là tư liệu LĐ, đối tượng LĐ và sức LĐ. Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình SX tạo ra giá trị sử dụng mới đó chính là lợi ích thu được từ việc tiêu dùng các loại SP mà quá trình SX này tạo ra. Vì vậy sự kết hợp ba yếu tố trong quá trình SX tạo ra các CP tương ứng, đó là các CP về tư liệu LĐ, CP về đối tượng LĐ và CP về sức LĐ. Các loại CP này thường xuyên phát sinh trong quá trình SXKD, nó vận động, thay đổi liên tục trong quá trình tái SX, tính phong phú, đa dạng của CP luôn được biểu hiện cụ thể gắn liền với sự phong phú, đa dạng, phức tạp của các loại hình SXKD khác nhau, của các giai đoạn công nghệ SX khác nhau và của sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Việc SX ra bất cứ một loại SP nào đó DN phải biết được CP để SX và tiêu thụ SP là bao nhiêu và nó phải nằm trong giới hạn CP của DN.” ét dưới góc độ kế toán tài chính, theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01) - chuẩn mực chung tại mục 31: “CP là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo tác giả Đặng Thị Hòa (2003) (Giáo trình Kế toán SX - Đại học Thương mại trang 52) “CPSX là biểu hiện bằng tiền của các hao phí về LĐ sống LĐ vật hóa 7 và các CP cần thiết khác mà doanh nhiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động SX trong một thời kỳ nhất định”. Theo tác giả Phạm Văn Dược (2007), “CP có thể được hiểu là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong hoạt động SXKD của một tổ chức để đạt được một mục đích nào đó” [11, tr. Do vậy, bản chất của CP là những gì phải mất đi, phải từ bỏ để có thể đạt được một mục đích.
Ngô Thế Chi (Giáo trình Kế toán tài chính - Học viện Tài chính năm 2013 - trang 255) “CP được nhìn nhận như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của DN để đạt được một số sp, lao vụ, dịch vụ nhất định. CP được xác định bằng tiền của những hao phí về LĐ sống, LĐ vật hóa… trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn”. ét dưới góc độ CPSX, theo quan điểm của Đặng Thị Thái Hòa (Giáo trình Kế toán quản trị - 2006): “CP của DN được hiểu là toàn bộ các hao phí về LĐ sống, LĐ vật hóa và các CP cần thiết khác mà DN phải chi ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho 1 thời kỳ nhất định.” Theo quan điểm này, CP coi là những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động S KD và được ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp CP và thu nhập trong một kỳ hạch toán. Theo KTTC, có những khoản CP phát sinh của kỳ này nhưng không được tính vào CP trong kỳ để xác định kết quả hoặc ngược lại có những khoản CP chưa phát sinh của kỳ này nhưng đã được tính vào CP trong kỳ để xác định.
Nhận thức về CP theo quan điểm KTQT chú trọng đến sự lựa chọn, sự so sánh, liên hệ với mục tiêu (kết quả) của hoạt động hơn là chú trọng vào chứng cứ, chứng từ ghi nhận phát sinh.” Tóm lại, các khái niệm tuy có khác nhau về cách diễn đạt nhưng về nội dung đều thể hiện bản chất của CP là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy sự thu về dưới dạng vật chất định lượng được như số lượng SP hoặc thu về dưới dạng tinh thần hay dịch vụ được phục vụ. CPSX là một bộ phận của CP, có tỷ trọng lớn trong tổng CP của DN. CPSX là những CP phát sinh tại các phân xưởng SX gắn liền với các hoạt động SX và chế tạo SP của DN. 8 Như vậy, bản chất của CPSX là các CP bỏ ra để tạo nên một giá trị sử dụng nào đó cũng như thực hiện giá trị sử dụng này và các CP này không liên quan đến việc tạo ra giá trị sử dụng.
Phân loại chi phí sản xuất CPSX có rất nhiều loại, nhiều khoản khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí…trong quá trình S. Để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán cần thiết phải tiến hành phân loại CPSX. Phân loại CPSX là việc sắp xếp các loại CP khác nhau vào từng nhóm theo những đặc trưng nhất định. Trên thực tế, có rất nhiều cách phân loại khác nhau nhưng lựa chọn tiêu thức phân loại nào là phải dựa vào yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán.
Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu được sử dụng phổ biến trong kế toán CPSX và tính Zsp:” a. Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí “Theo cách phân loại này, những CP có cùng nội dung và tính chất kinh tế xếp vào một loại gọi là yếu tố CP, mà không phân biệt CP đó phát sinh trong lĩnh vực hoạt động SX nào, ở đâu và có tác dụng như thế nào. Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý CP theo nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, CPSX được phân theo yếu tố. Toàn bộ CP được chia làm các yếu tố sau: - CP nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm giá mua, CP mua của NVL dùng vào hoạt động SX trong kỳ.
Yếu tố này bao gồm: CP NVL chính, CP NVL phụ, CP nhiên liệu, CP phụ tùng thay thế và CP NVL khác. - CP nhân công: Yếu tố CP nhân công là các khoản CP về tiền lương phải trả cho người LĐ, các khoản trích theo lương như BH H, BHYT, KPCĐ, BHTN của người LĐ. - CP khấu hao TSCĐ: Yếu tố CP này bao gồm khấu hao của tất cả TSCĐ dùng vào hoạt động của SX trong kỳ của DN. - CP dịch vụ mua ngoài: CP dịch vụ mua ngoài là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho các hoạt động SX của DN.
9 - CP khác bằng tiền: Là các khoản CP bằng tiền phát sinh trong quá trình SX ngoài các yếu tố CP nói trên. Phân loại CP theo tiêu thức này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại CPSX mà DN đã chi ra để lập bản thuyết minh BCTC, phân tích tình hình thực hiện dự toán CP và lập dự toán CP cho kỳ sau. Cách phân loại này giúp DN trong việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán CP. Phân loại CPSX theo mục đích và công dụng của chi phí “Căn cứ vào mục đích của từng loại hoạt động trong DN SX và công dụng kinh tế của CP thì CPSX được chia thành: - CP NVL TT: Là toàn bộ CP về NVL được sử dụng trực tiếp cho quá trình SXSP, lao vụ, dịch vụ.
- CP NCTT: Bao gồm CP về tiền lương, tiền trích BH H, BHYT, KPCĐ, BHTN của công nhân trực tiếp SX. - CP SXC: Là các khoản CPSX liên quan đến phục vụ và quản lý SX trong phạm vi phân xưởng, đội SX. Bao gồm các yếu tố CP như: lương nhân viên phân xưởng, VL, dụng cụ, khấu hao TSCĐ, dịch vụ mua ngoài và CP khác bằng tiền. Cách phân loại này giúp cho việc quản lý CP theo định mức, là cơ sở cho kế toán tập hợp CPSX và tính Zsp theo khoản mục, là căn cứ để thực hiện kế hoạch giá thành và định mức CPSX cho kỳ sau.
Phân loại CPSX theo mối quan hệ giữa CP với khối lượng công việc sản phẩm hoàn thành Theo cách phân loại này, tổng thể CPSX được phân chia thành 3 loại: - CP biến đổi (biến phí): Là những CP thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của DN. Nếu xét về tổng số thì biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng hoạt động, nhưng xét trên một đơn vị khối lượng hoạt động thì biến phí thường có thể là hằng số đối với mọi mức độ hoạt động. Trong DN SX, biến phí tồn tại như: CP NVL TT, CP NCTT, CP S C. - CP cố định (định phí): Là những CP mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của đơn vị.
Nếu xét trên tổng CP, định phí không 10 thay đổi. Ngược lại, nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động, định phí tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động. Mức độ hoạt động càng cao thì định phí cho một đơn vị mức độ hoạt động càng giảm. Như vậy, dù DN hoạt động hay không hoạt động vẫn tồn tại định phí.
- CP hỗn hợp:“Là loại CP gồm có cả yếu tố định phí và biến phí. Ở một mức độ hoạt động nào đó, CP hỗn hợp thể hiện đặc điểm của định phí, ở mức độ hoạt động khác chúng lại thể hiện đặc điểm của biến phí. Việc phân định định phí và biến phí có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế, xây dựng mô hình CP trong mối quan hệ giữa CP, khối lượng và lợi nhuận, xác định điểm hòa vốn cũng như ra các quyết định SX quan trọng.