Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất Chương 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần VINASPC Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các giải pháp và kết luận 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 2. Khái niệm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 2. Khái niệm chi phí sản xuất Xã hội vận động và phát triển gắn liền với các quá trình lao động, sản xuất tạo ra của cải vật chất. Để tạo ra được của cải vật chất (sản phẩm) thì đòi hỏi con người phải vận dụng sự kết hợp giữa sức lao động của con người cùng với một lượng vật chất cụ thể (vật tư, máy móc thiết bị…) trong một khoảng thời gian nhất định.
Đây chính là nguồn gốc hình thành nên các CPSX để tạo ra giá trị sản phẩm. Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (Vietnamese Accounting Standard - VAS) số 01 “Chuẩn mực chung”, chi phí được định nghĩa như sau: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Với định nghĩa này, chi phí được xem xét theo từng kỳ kế toán và là các khoản mục trong báo cáo tài chính. Theo cách đó thì chi phí được ghi nhận, phản ánh theo những nguyên tắc nhất định.
Định nghĩa chi phí như vậy phù hợp khi đứng trên góc độ của đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính, chủ yếu là đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Về bản chất hoạt động SXKD của doanh nghiệp là sự kết hợp, vận động và chuyển đổi giữa các yếu tố tư liệu lao động để tạo ra kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất. Như vậy, chi phí hoạt động của doanh nghiệp phát sinh trong tất cả các giai đoạn sản xuất, tuy nhiên chỉ các chi phí phát sinh trong giai đoạn biến đổi các yếu tố đầu vào để trở thành các sản phẩm, dịch vụ mới được gọi là CPSX. CPSX có thể được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau.
CPSX là các khoản chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp. CPSX là sự tiêu hao các nguồn lực như nguyên vật liệu (NVL), sức lao động và các yếu tố khác để tạo nên sản phẩm, dịch vụ hoàn thành. CPSX thường được phân chia thành ba khoản mục là CP NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung (Lê Kim Ngọc, 2022). Khái niệm giá thành sản xuất sản phẩm Quá trình sản xuất ở một doanh nghiệp không chỉ đơn thuần xét đến yếu tố chi phí mà còn tính đến yếu tố giá thành.
Chi tiết hơn, quá trình sản xuất ở một doanh nghiệp phải bỏ ra những CPSX, mặt khác kết quả sản xuất doanh nghiệp thu được là một lượng sản phẩm, công việc nhất định đã hoàn thành đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Những sản phẩm, công việc đã hoàn thành gọi chung là thành phẩm, cần được tính giá thành, tức những chi phí bỏ ra để sản xuất chúng. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về NVL, nhân công, hao mòn tài sản cố định (TSCĐ) và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan tới khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Giá thành sản phẩm là kết quả của quá trình SXKD, là sự kết tinh của các yếu tố chi phí sau một chu kỳ sản xuất.
Trong quá trình SXKD, nhà quản trị muốn tiết kiệm chi phí để tăng lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động thì cần phải hiểu rõ các ý nghĩa của chỉ tiêu giá thành sản phẩm (Lê Kim Ngọc, 2022). Giá thành sản xuất sản phẩm là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất bao gồm CP NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung (Lê Kim Ngọc, 2022). Nhìn chung, giá thành là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động SXKD, quản lý tài chính và kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, nhân lực, tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng như giải pháp kinh tế - kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm đạt được mục đích sản xuất ra khối lượng sản phẩm nhiều nhất với CPSX tiết kiệm nhất. Giá thành vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan trong một phạm vi nhất định, do đó phải xem xét giá thành trên nhiều góc độ khác nhau nhằm sử dụng dụng chỉ tiêu giá thành có hiệu quả nhất.
Giá thành là toàn bộ biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa kết tinh trong một đơn vị sản phẩm, mang tính khách quan về sự di chuyển giá trị tư liệu sản xuất, sức lao động trong mỗi sản phẩm. Mặt khác, giá thành là một đại lượng tính toán trên cơ sở CPSX đã bỏ ra và kết quả sản xuất đã được trong kỳ nên nó là một chỉ tiêu được xác định theo những tiêu chuẩn nhất định. Ngoài ra, giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính toán xác định hiệu quả SXKD của doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất gồm hai mặt: mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất.
Nếu CPSX là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí có liên quan đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán nhất định thì giá thành sản phẩm cũng là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra nhưng có liên quan đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành trong kỳ (Lê Kim Ngọc, 2022). CPSX và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau. Việc xác định giá thành sản phẩm hoàn thành phải dựa trên số liệu về CPSX đã được tập hợp. Số liệu này bao gồm những khoản chi phí phát sinh không chỉ ở một kỳ mà có thể phát sinh ở nhiều kỳ kế toán nhưng có liên quan đến khối lượng sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ.
Một điều cần lưu ý trong quá trình xác định giá thành là thời điểm kết thúc quy trình sản xuất và thời điểm kết thúc kỳ kế toán thường không đồng nhất nên vào cuối kỳ kế toán sẽ có những khoản chi phí đã phát sinh nhưng chưa hình thành nên sản phẩm hoàn thành đó chính là CPSX dở dang. Mối quan hệ trên được diễn giải bằng công thức sau: Tổng giá CPSX CPSX CPSX thành sản = dở dang + phát sinh - dở dang (2.1) xuất sản đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ phẩm Giá thành Tổng giá thành sản xuất sản phẩm đơn vị sản = (2.2) phẩm Số lượng sản phẩm hoàn thành (Lê Kim Ngọc, 2022) Khi giá trị sản phẩm sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc khi không có SPDD thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng CPSX phát sinh trong kỳ. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Trong các doanh nghiệp sản xuất, để sản xuất ra một mặt hàng, một sản phẩm bao gồm rất nhiều loại chi phí khác nhau, mỗi loại có một nội dung, tính chất kinh tế cũng như mục đích, công dụng khác nhau. Việc quản lý CPSX không thể dựa vào số 8 liệu cụ thể của từng loại chi phí riêng biệt, CPSX của doanh nghiệp phải được tập hợp và tính toán theo từng thời kỳ nhất định, phù hợp với thực tế có thể là tháng, quý hoặc năm.
Trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và Công ty Cổ phần VINASPC nói riêng, việc thực hiện công tác kế toán CPSX một cách khoa học, hợp lý và đúng đắn có ý nghĩ rất lớn trong việc lập kế hoạch điều hành, tổ chức thực hiện và quản lý chi phí, giá thành, cũng như hoạt động SXKD, góp phần tăng cường quản lý tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn một cách tiết kiệm, có hiệu quả. Đó là một trong những điều kiện quan trọng, tạo cho doanh nghiệp một ưu thế cạnh tranh. Bên cạnh đó, kế toán CPSX còn là công cụ quản lý quan trọng, hữu hiệu về CPSX, kiểm soát CPSX, hạ giá thành sản phẩm, tối đa hóa lợi nhuận. Kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm muốn đáp ứng đầy đủ tính trung thực và kịp thời theo yêu cầu về quản lý CPSX và giá thành của doanh nghiệp, kế toán cần thực hiện được các nhiệm vụ chủ yếu sau: - Xác định đúng đối tượng kế toán tập hợp CPSX và phương pháp tính giá thành sản phẩm thích hợp.
Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho. - Tổ chức tập hợp, phân bổ từng loại CPSX theo đúng đối tượng tập hợp CPSX đã xác định và bằng phương pháp thích hợp đã chọn, cung cấp kịp thời những số liệu thông tin tổng hợp về các khoản mục chi phí và yếu tố chi phí đã quy định, xác định đúng đắn trị giá SPDD cuối kỳ. - Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính toán theo đúng khoản mục quy định và đúng kỳ tính giá thành sản phẩm đã xác định một cách chính xác. - Tổ chức kiểm kê, xử lý, cập nhật số lượng SPDD cuối kỳ, số lượng sản phẩm hình thành, SPDD đầu kỳ… - Tổ chức xây dựng các báo cáo cần thiết, định kỳ cung cấp các báo cáo về CPSX và giá thành cho các cấp quản lý doanh nghiệp, tiến hành phân tích tình hình thực hiện các định mức và dự toán chi phí, phân tích tình hình biến động chi phí và kế hoạch hạ giá thành sản phẩm.
Phát hiện các hạn chế và khả năng tiềm tàng, đề xuất các biện pháp để giảm chi phí.