CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT-BTC 1. Khái quát chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất theo thông tư 200/2014/TT-BTC 1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất Sản xuất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người.
Khái niệm doanh nghiệp sản xuất là những doanh nghiệp sử dụng nguồn lực, tư liệu sản xuất kết hợp với ứng dụng khoa học công nghệ để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường. Đặc điểm chung về hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất gồm: - Quyết định sản xuất của doanh nghiệp: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết để làm ra sản phẩm? Việc này không chỉ giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển vững mạnh mà còn giúp cân bằng cung – cầu của thị trường. - Quy trình sản xuất: Quy trình sản xuất là một chuỗi các công việc được thực hiện theo thứ tự để tạo ra sản phẩm trên cơ sở kết hợp: Nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị, năng lượng và các yếu tố khác. - Chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí khấu hao máy móc nhà xưởng, chi phí năng lượng, chi phí điều hành và phục vụ sản xuất… - Giá thành sản phẩm: Giá thành sản phẩm sẽ được định giá dựa trên toàn bộ chi phí sản xuất tạo ra lượng sản phẩm hoàn thành (thành phẩm) trong một khoảng thời gian nhất định.
Chi phí sản xuất 1. Khái niệm Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có đủ ba yếu tố cơ bản đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp ba yếu tố trên để tạo ra các loại sản phẩm lao vụ và dịch vụ. Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình sản xuất kinh doanh đã tạo ra các chi phí tương ứng.
Trên góc độ của Kế toán Tài chính: Chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt được một sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí được xác định bằng tiền của những hao phí về lao động sống, lao động vật hóa… trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn. 1 Trên góc độ Kế toán Quản trị: Chi phí không chỉ đơn thuần nhận thức chi phí như Kế toán Tài chính, chi phí còn được nhận thức theo phương thức nhận diện thông tin ra quyết định. Chi phí có thể là phí tổn ước tính để thực hiện dự án, những phí tổn mất đi khi lựa chọn phương án, bỏ qua cơ hội kinh doanh.
Trong đó Kế toán Quản trị lại cần chú ý đến sự lựa chọn, so sánh theo mục đích sử dụng, môi trường kinh doanh hơn là chú trọng và chứng minh bằng các chứng cứ, chứng từ. Nhìn chung, có thể nói chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động vật hóa, lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Phân loại Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại. Do đó, để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra các quyết định thì chi phí cần được phân loại theo những tiêu thức phù hợp.
Chi phí sản xuất thường được phân theo các tiêu thức sau: a. Phân loại theo yếu tố chi phí Cách phân loại này dựa vào nguyên tắc những chi phí có cùng nội dung kinh tế được xếp vào một loại, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở địa điểm nào, lĩnh vực gì hay hoạt động mục đích gì trong sản xuất kinh doanh. Toàn bộ chi phí được chia thành 5 yếu tố chi phí sau: - Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, … sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. - Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương: Phản ánh toàn bộ số tiền lương, tiền công, phụ cấp và các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ tính trên lương của công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên quản lý sản xuất ở các phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ như điện, nước, … - Chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ ngoài các yếu tố chi phí nói trên. Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí. Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm 2 Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục.
Cách phân loại dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí theo từng đối tượng nhằm tạo thuận lợi cho việc tính giá thành sản phẩm. - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là các chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu phải được tính theo giá thực tế xuất sử dụng. - Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các khoản phải trả cho người lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm như tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ).
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động quản lý, phục vụ sản xuất trong phạm vi phân xưởng, tổ đội như chi phí lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác. - Chi phí bán hàng: Là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, gồm có: chi phí quảng cáo, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng và các chi phí khác gắn liền đến bảo quản và tiêu thụ hàng hóa. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung của toàn doanh nghiệp. Bao gồm chi phí nhân viên quản lý; chi phí đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ dùng chung toàn bộ doanh nghiệp; chi phí tiếp khách, hội nghị,.
Phân loại theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc hoàn thành Việc phân loại theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành hỗ trợ nhà quản trị tìm được điểm hòa vốn. Đây cũng là căn cứ để doanh nghiệp đưa ra các chính sách, quyết định kinh doanh như thay đổi giá thành sản phẩm để tăng hiệu quả kinh doanh. Các chi phí theo cách phân loại này được chia làm 2 loại: - Chi phí cố định (Định phí): Là những chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của đơn vị. - Chi phí biến đổi (Biến phí): Là những chi phí thay đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động sản xuất của đơn vị.
Mức độ hoạt động sản xuất có thể là số giờ máy hoạt động, số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ, … d. Phân loại theo đối tượng tập hợp chi phí và phương pháp tập hợp chi phí Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp được chia thành 2 loại: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có chính sách phân chia chi phí hợp lý cho các đối tượng thông qua xác định phương pháp kế toán tập hợp. 3 - Chi phí trực tiếp: Là những khoản chi phí phát sinh được tập hợp trực tiếp cho một đối tượng tập hợp chi phí.
- Chi phí gián tiếp: Là loại chi phí liên quan đến nhiều đối tượng, do đó cần phải tập hợp sau đó tiến hành phân bổ theo những tiêu thức thích hợp. Giá thành sản phẩm 1. Khái niệm Trong doanh nghiệp sản xuất nói chung thì giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp vừa phản ánh kết quả của việc sử dụng tài sản, vật tư, lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh vừa phản ánh kết quả của các nỗ lực quản lý chi phí của doanh nghiệp nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao lợi nhuận.
Phân loại giá thành sản phẩm Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý và hạch toán, giá thành sản phẩm được phân chia làm nhiều loại khác nhau, tùy theo các tiêu thức sử dụng để phân loại giá thành. Phân loại dựa trên cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành Cách phân loại này giúp cho việc quản lý, giám sát chi phí cũng như xác định được các nguyên nhân hao hụt hoặc vượt định mức chi phí; từ đó có thể điều chỉnh kế hoạch sao cho phù hợp nhất. - Giá thành kế hoạch: Được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch. - Giá thành định mức: Là giá thành được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành ở từng thời điểm trong kỳ kế hoạch nên giá thành định mức thường thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm.