Chương 1: Co sở lý luận và pháp lý tổ chức hoạt động văn phòng Khối Dân vận cấp cơ sở. Trong phần này tác giả nêu ra cơ sở lý luận làm rõ khái niệm và đối tượng của khối Dân vận cơ sở; cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động văn phòng khối Dân vận cơ sở; đây là cơ sở cho Chương 2 nhăm làm rõ quy định về tô chức hoạt động văn phòng khối Dân vận cơ sở, cũng như thách thức và quy trình tổ chức hoạt động văn phòng khối Dân vận cơ sở. 10 Chương 2: Khảo sát, phân tích thực trạng tổ chức hoạt động văn phòng của Khối Dân vận cấp cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một trước và sau khi có sự thay đôi về nhân sự (giảm biên chế). Trên cơ sở khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động văn phòng của khối Dân vận cơ sở 14/14 phường tại thành phố Thủ Dầu Một tác giả phân tích và đánh giá những thuận lợi, khó khăn từ đó đề xuất giải pháp tô chức hoạt động văn phòng của khối Dân vận cơ sở.
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động văn phòng của Khối Dân vận cấp cơ sở. Trên cơ sở thực trang hoạt động văn phòng khối Dân vận cơ sở, tác giả trình bày và phân tích các giải pháp để tô chức hoạt động văn phòng khối Dân vận co sở thiệt thực hiệu quả. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TỎ CHỨC HOẠT ĐỘNG VĂN PHONG KHOI DAN VAN CAP CƠ SỞ 1. Cơ sở lý luận tổ chức hoạt động văn phòng Khối Dân vận cap cơ sở 1.
Các khát niệm có lên quan 1. Khái niệm Dân vận Dân vận: “Là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân. Để thực hành những công việc nên làm, những công việc của Chính phủ và Đoàn thé đã giao cho”[10]. Công tác Dân vận là trách nhiệm của cả hệ thong chinh tri, Dang vién, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và nhân dan trong công tac tuyên truyền, vân đông, thu hút, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Dân vận là hoạt động thông qua hành động hoặc lời nói, chữ viết để vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào. Đây là công tác vận động nhân dân tham gia làm cách mạng, hay còn gọi là công tác vận động quần chúng. Từ việc vận động đó để đóng góp sức dân thành lực lượng nhân dân và từ lực lượng nhân dân thành lực lượng toàn dân, dé cùng nhau tiếp sức, thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể đã giao cho. Dân vận không chỉ ở con người và tô chức mà còn là một hoạt động, bao gồm cả tuyên truyền, giảng giải, thuyết phục, hướng dẫn, tổ chức; vừa là phong trào xã hội, từ thi đua yêu nước, vận động đoàn kết, vừa là công tác thực tế hăng ngày.
Công tác Dân vận ở thời kì nào cũng mang vai trò hết sức quan trọng với sự phát triển của cả một dân tộc, một đất nước. Mục đích của Dân vận là làm cho người dân trưởng thành cả ý thức dân chủ và năng lực làm chủ, người dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền nhà nước, xây dựng các tô chức, đoàn thê của mình. Qua Dân vận mà Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thê các câp 12 ngày càng được xây dung, củng cố, phát triển vững mạnh. Vi vậy, công tác Dân vận kém thì việc gì cũng kém còn Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công.
Dân vận tốt thì giữa Đảng nhà nước và nhân dân mới có sự gắn kết, bền chặt, đồng lòng cùng chí hướng, đất nước mới giàu mạnh, phát triển được. Dân vận là thước đo của một xã hội phát triển, một nhà nước pháp quyền, một nền dân chủ và một hệ thống chính trị đổi mới. Dân vận giúp xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phát huy dân chủ, là cầu nối giữa Đảng, chính quyền với nhân dân; giữa nhân dân với Đảng, chính quyền [4]. Dé công tác Dân vận thành công thì người thực hiện phải luôn chú trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, động viên kịp thời, ban Dân vận phải biết lắng nghe, quan tâm chăm lo nâng cao đời sông vật chat, tinh than cho nhân dân.
Đồng thời mỗi người thực hiện nhiệm vụ công tác Dân vận hay trong các hoạt động ứng xử, tiếp xúc, đối thoại với nhân dân thì tất cả những người có chức trách nhiệm vụ cần thể hiện sự cầu thị, lắng nghe, tôn trọng, hiểu biết, chia sẻ.thì Dân vận sẽ ngảy càng khéo, sự đồng thuận ủng hộ chính quyền sẽ ngày càng cao. Khái niệm cấp cơ sở Cơ sở là|cái|làm đó hoặc Imàiôn tail phát triển - La cap gần với cộng đồng dân cư, tổ chức và hoạt động mang tính tự quản. - Là cấp triển khai thực hiện trên cơ sở thực tế chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. - Là cấp đầu tiên tiếp xúc và giải quyết các vẫn đề bức xúc, yêu cầu của nhân dân.
13 - Là cấp có bộ máy đơn giản, số lượng cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ ít nhất. - Là cấp mà văn hóa truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo, quan hệ hàng xóm, họ hàng có ảnh hưởng lớn đến nhận thức và hành động của nhân dân. Đối với công tác Dân vận được chia làm 4 cấp gồm: Ban Dân vận Trung ương, Ban Dân vận Tỉnh, Ban Dân vận huyện, thị và cuối cùng cấp cơ sở là Khối Dân vận xã, phường, thị tran. Khái niệm Khối Dân vận cơ sở Khối Dân vận là một tổ chức là cơ quan tham mưu của Đảng uỷ, trực tiếp và thường xuyên giúp Ban thường vụ, BCH Đảng bộ cùng cấp về công tác Dân vận của Đảng, công tác tôn giáo, công tác dân tộc; đồng thời là Thường trực của Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ cùng cấp.
Tổ chức Khối Dân vận do đồng chí Phó bí thư thường trực Đảng (hoặc đồng chí Ủy viên thường vụ thường trực Đảng) làm trưởng khối. Thành viên bao gồm các đồng chí: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, trưởng các đoàn thể và hội quần chúng, Thường trực Hội đồng nhân dân, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân. Ở các phường, thị tran cử thêm đồng chí Trưởng công an tham gia. Duy trì nền nếp chế độ giao ban khối hàng tháng, quý, năm đề tổng hợp tình hình quan chúng; thống nhất kiến nghị với cấp ủy và chính quyền xử lý những vướng mắc trong công tác Mặt trận, đoàn thé.
Thực hiện chế độ thông tin báo cáo với cấp ủy và Ban Dân vận cấp trên theo quy định. Phối hợp giữa các thành viên trong Khối Dân vận tham mưu đề xuất với Dang uỷ tô chức triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Tỉnh uỷ, Huyện uỷ và nghị quyết của Đảng ủy về công tác Dân vận. Theo dõi, kiểm tra, phản ánh về tình hình tư tưởng, nguyện vọng của nhân dân; sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, đề xuất, kiến nghị các nội dung về công tác Dân vận với Đảng ủy và Ban Dân vận Huyện ủy. 14 Phối hợp các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thé chính trị - xã hội; tuyên truyền phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của xã, phường, thị trấn tới các tầng lớp nhân dân.
Hướng dẫn, tô chức các phong trào quan chúng thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quôc phòng, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyên, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; giúp Dang ủy xử lý những van dé cụ thể liên quan đến công tác Dân vận. Hướng dân nghiệp vụ công tác Dân van cho Tổ Dân vận. Thường xuyên giữ mỗi liên hệ giữa các hoạt động trong Khối Dân vận, theo dõi tình hình hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thê để đề xuất với Dang ủy tăng cường sự lãnh đạo; biéu dương các Chi bộ, cá nhân làm tốt công tác Dân vận; khắc phục những ton tại hạn chế; củng cố tổ chức, đảo tạo bồi dưỡng, khen thưởng động viên cán bộ trong Khối Dân vận. Khái niệm văn phòng - Văn phòng theo nghĩa rộng (văn phòng toàn bộ) bao gồm toàn bộ bộ máy quản lý của đơn vị từ cao cấp đến cơ sở với các nhân sự làm quản trị cho hệ thống quản lý nói riêng.
Văn phòng toàn bộ có đầy đủ tư cách pháp nhân trong hoạt động đối nội, đối ngoại dé thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. - Văn phòng theo nghĩa hẹp (văn phòng chức năng): chỉ bao gồm bộ máy trợ giúp nha quản tri những việc trong chức năng được giao; là một bộ phận cấu thành trong tô chức, chịu sự điều hành của nhà quản trị cấp cao. Văn phòng chức năng không phải là một pháp nhân độc lập trong các quan hệ đối ngoại. - Dù theo nghĩa nào thì văn phòng cũng là một thực tế tồn tại khách quan có hệ thống cơ cấu tổ chức, được quản lý, điều hành theo mục tiêu nhất định.
Nhưng thông thường văn phòng tồn tại theo nghĩa hẹp được chấp nhận nhiều hơn dé tránh sự trùng lập với một tô chức, cơ quan trong việc xác định chức năng, nhiệm vụ và địa vị pháp lý của văn phòng. 15 Như vậy, văn phòng tôn tại như là một thực thể, nên có nhiều cách tiếp cận khác nhau, chính vì vậy mà hiện có nhiều quan niệm về văn phòng. Tiếp cận theo phương diện tô chức, văn phòng là một don vị cấu thành của tô chức bao gồm các yếu tố cấu thành phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao theo định hướng hoạt động chung của tô chức. Tiếp cận theo chức năng tô chức, văn phòng là một thực thé tồn tại dé thực hiện việc quản lý thông tin phục vụ cho điều hành của nhà quản trị.
Với những cách tiếp cận khác nhau trên đây, có thể thấy cách tiếp cận chức năng mang tính bao quát nhất. Vì thế mà khái niệm văn phòng được hiểu khái quát như sau: Văn phòng là thực thé tồn tại khách quan trong mỗi tổ chức thực hiện các chức năng theo yêu cầu của nhà quản trị tổ chức đó. Khái niệm hoạt động văn phòng Văn phòng là một thực thé tồn tại khách quan, bởi vậy nó cũng có những điều kiện tôn tại như bat kỳ một thực thé nào thông quan mối quan hệ đặc trưng với môi trường mà nó tôn tại.