Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm Trong lịch sử giáo dục thì tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm đã manh nha xuất hiện từ thời cổ đại, dần dần được phát triển bởi các nhà giáo dục trên thế giới và được các nước có nền giáo dục tiên tiến coi như triết lý giáo dục của quốc gia. Hơn 2000 năm trước, Khổng Tử (551- 479 TCN) đã nói: “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”, tư tưởng này thể hiện tinh thần chú trọng học tập từ trải nghiệm và việc làm.
Cùng thời gian đó, ở phương Tây, nhà triết học Hy Lạp - Socrate (470-399 TCN) cũng nêu lên quan điểm: “Người ta phải học bằng cách làm một việc gì đó; Với những điều bạn nghĩ là mình biết, bạn sẽ thấy không chắc chắn cho đến khi làm nó”. Đây được coi là những nguồn gốc tư tưởng đầu tiên của “Giáo dục trải nghiệm”. Có rất nhiều nghiên cứu về “học tập trải nghiệm”, nổi bật có thể đề cập đến chu trình học từ trải nghiệm của David Kolb. Để kinh nghiệm học tập được chính xác; theo ông, cần có một số điều kiện như người học phải sẵn sàng tham gia trải nghiệm tích cực, có khả năng suy nghĩ về những gì trải nghiệm và sử dụng kỹ năng phân tích để khái quát hóa các kinh nghiệm có được cũng như phải có kĩ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề để sử dụng những ý tưởng mới thu được từ trải nghiệm [16], [17].
Bisson và Luckner thông qua nghiên cứu của mình đã thấy rằng, trong và sau quá trình tham gia trải nghiệm, người học cảm thấy thích thú, thoải mái, 7 tăng cảm xúc bản thân, giảm stress, giảm rào cản xã hội giữa các cá nhân và giảm sự ganh đua tiêu cực giữa HS giỏi và HS yếu [19]. Jonh Deway là người đưa ra quan điểm “Học qua làm, học bắt đầu từ làm”. Theo ông, quá trình sống và giáo dục không phải là hai quá trình mà là một, con người không ngừng thu lượm kinh nghiệm và cải tổ kinh nghiệm nên trẻ em phải học tập trong chính cuộc sống xã hội [7], [8], [10]. Ở Việt Nam, vấn đề HĐTN ở trường phổ thông được Đảng và Chính phủ quan tâm từ rất sớm.
Chúng ta đã ban hành các văn bản pháp lý chỉ đạo và định hướng cho công tác giáo dục HĐTN như: Từ thời kì đầu của nền giáo dục nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương pháp để đào tạo nên những người tài đức là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. HĐTN là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống, nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực. Đinh Thị Kim Thoa khẳng định: Trải nghiệm là phương thức học hiệu quả gắn với vận động, với thao tác vật thật và gắn với đời sống thực. Việc học thông qua làm, học đi đôi với hành, học từ trải nghiệm giúp người học đạt được tri thức và kinh nghiệm.
có ý nghĩa giáo dục cao nhất [25], [26]. Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT” [1], Bộ GD&ĐT có văn bản số 3119/ BGDĐT-GDCN ngày 17/6/2014 về việc hướng dẫn phối hợp để thực hiện giáo dục hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho HS phổ thông [4]. Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả GDPT; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền 8 giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi HS” [24]. Bài viết Thực trạng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động trải nghiệm cho HS ở trường tiểu học trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai của Hoàng Thị Ngọc đã đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả HĐTN [21]; Bài viết: Thực trạng và đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho GV chủ nhiệm lớp trong các trường tiểu học tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng của Hoàng Thị Hiền cũng xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của HĐTN [12].
Tác giả Trần Thị Thanh Thủy (2019) trong đề tài Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho HS ở các trường Tiểu học thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, đã đánh giá những tồn tại trong tổ chức HĐTN cho HS cũng như GV thiếu sự sáng tạo trong khâu tổ chức, đồng thời chưa có sự thống nhất trong cách thức thực hiện. GV vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức HĐTN như về thời lượng dành cho chương trình, yếu tố thuộc về hạn chế của GV hay sự khó khăn về kinh phí thực hiện [28]. Có thể nói, HĐTN cho HS đã được nhiều tác giả với các công trình khoa học cả trong nước lẫn ngoài nước, những chủ trương, đường lối của của Đảng, Nhà nước, của ngành GD&ĐT đều tập trung để tư vấn, định hướng giáo dục HĐTN và hình thành các kĩ năng sống cho HS nhằm để các em dễ dàng hòa nhập với cuộc sống lao động trong nền kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động trải nghiệm Tác giả T.
Ilina cho rằng: “Quản lý các HĐTN với mục đích bổ sung và làm sâu hơn công tác giáo dục nội khóa; trước tiên, nó là phương tiện để phát hiện đầy đủ năng lực HS, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của các em đối với hoạt động nào đó và cũng là hình thức tổ chức giải trí cho các em, là cơ sở để quản lý việc thực tập về hành vi đạo đức để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này” [13]. 9 Gần đây có nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sỹ đã lựa chọn làm đề tài tốt nghiệp. Tiêu biểu như: Nguyễn Ngọc Trang thực hiện đề tài luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng trường tiểu học Từ Sơn - Bắc Ninh [29]; Nguyễn Thị Yến Thoa với luận án: Rèn luyện kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm [27]; Huỳnh Thị Thu Nguyệt nghiên cứu luận văn thạc sĩ với đề tài: Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo hướng tổ chức HĐTN [22]. Thông qua nghiên cứu của mình, các tác giả đã làm sáng tỏ lý luận về vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho HS tiểu học, đề xuất các biện pháp quản lý, tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp gắn với các trường học của một cấp học nhất định ở một địa phương cụ thể.
Về quản lý HĐTN cho HS tiểu học, gần đây có luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Nghĩa với đề tài: Quản lý hoạt động trải nghiệm của HS trường tiểu học Vân Phú thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý HĐTN của HS trường tiểu học Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại. Thúc đẩy các hoạt động của nhà trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong trường tiểu học nói chung và giáo dục toàn diện đất nước và thế giới [20]. Có thể thấy HĐTN là một cách gọi bao quát các hoạt động giáo dục mà ở đó người học được tham gia vào các hoạt động thực tiễn để khám phá sáng tạo, trong đó bao gồm cả hoạt động trong và ngoài giờ lên lớp.
Do đó các công trình kể trên đã nghiên cứu phần nào về quản lý HĐTN theo góc độ quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Ở các chuyên đề tập huấn, các báo cáo khoa học đã phân tích làm rõ tính cấp bách của việc tổ chức các HĐTN, nội dung và hình thức tổ chức HĐTN. Nhưng các nghiên cứu đó chưa đề cập các 10 biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức các HĐTN cho GV trong các trường tiểu học một cách toàn diện. Hình thức và phương pháp tổ chức các HĐTN như thế nào cho phù hợp và hiệu quả đối với từng đối tượng HS chưa được đề cập nhiều.
Do đó, trong bối cảnh cụ thể của nhà trường thuộc mỗi cấp học, ở từng địa phương cần tiếp tục được triển khai trên cơ sở nhận thức đầy đủ về HĐTN, làm rõ trách nhiệm của nhà trường, của nhà quản lý và của GV trong công tác giáo dục. Các khái niệm chính của đề án 1. Khái niệm hoạt động trải nghiệm Trải nghiệm theo tiếng Anh được gọi là Experience, nó được dùng để chỉ về các sự vật, hiện tượng mà chúng ta trực tiếp tiếp xúc, quan sát và tích lũy được thông qua các sự việc, sự vật trong đời sống. Còn theo Từ điển tiếng Việt là “trải qua, kinh qua” [23, tr.
1577], tức là sự can dự của chủ thể về một nội dung nào đó. Như vậy, trải nghiệm là tiến trình hay quá trình hoạt động năng động để thu thập kinh nghiệm, trên tiến trình đó có thể thu thập được những kinh nghiệm tốt hoặc xấu, thu thập được những bình luận, nhận định, rút tỉa tích cực hay tiêu cực, không rõ ràng còn tùy theo nhiều yếu tố khác nhau như môi trường sống và tâm địa của mỗi người.