Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm Khái niệm văn hóa Khái niệm về văn hóa có nội hàm hết sức phong phú và đa dạng, trên thế giới hiện nay có rất nhiều định nghĩa về văn hóa của các nhà nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau điều đó cho chúng ta thấy rằng văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, bao gồm các mặt đời sống, sinh hoạt, lao động, sản xuất… của con người. Mỗi một định nghĩa về văn hóa đều phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác nhau như dân tộc học, văn hóa học, xã hội học… và đối với mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó thì định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. - Trong lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (tại Paris tháng 12/1986), Tổng Giám đốc UNESSCO F.
Mayor đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động, sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị yếu – những yếu tố xác định các đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [19]. Định nghĩa này tập trung vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một khoảng thời gian dài để tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của mỗi dân tộc. Định nghĩa trên còn cho ta thấy không phải hoạt động nào của con người cũng tạo nên giá trị văn hóa, chỉ có các hoạt động sáng tạo mới có thể tạo ra 13 những giá trị mà con người có thể coi là văn hóa của mỗi tộc người.
Mặt khác, định nghĩa này còn nhấn mạnh tính riêng biệt của mỗi nền văn hóa, cổ vũ cho việc giữ gìn tính đa dạng của văn hóa thế giới. - Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [29, tr.
Định nghĩa về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp cho chúng ta có thể hiểu về văn hóa một cách cụ thể và đầy đủ hơn. Nói cho cùng thì tất cả các hoạt động của con người trước hết đều vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, những hoạt động đó phải được trải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi lặp lại để trở thành thói quen, phong tục, tập quán được chắt lọc thành những giá trị vật chất và tinh thần tích lũy, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thành kho tàng quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộng đồng dân cư từ đó gom góp lại thành di sản văn hóa của nhân loại. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hóa được hiểu theo cả ba nghĩa đó là nghĩa rộng, nghĩa hẹp và nghĩa rất hẹp: Theo nghĩa rộng thì văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.
Theo nghĩa hẹp thì văn hóa là những giá trị tinh thần. Người viết: “Trong cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi 14 là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng (báo Cứu quốc, tháng 8 năm 1945). Theo nghĩa rất hẹp thì văn hóa đơn giản chỉ là trình độ học vấn của con người được đánh giá bằng trình độ học vấn phổ thông, thể hiện ở việc Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người phải đi học văn hóa, phải xóa mù chữ.
Ngoài các định nghĩa nêu trên, tác giả nhận thấy còn rất nhiều định nghĩa khác về văn hóa theo những cách tiếp cận cũng như nghiên cứu khác nhau. Nhìn chung, chúng ta có thể thấy rằng văn hóa là một lĩnh vực hết sức phong phú và rộng lớn, nó bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực trong đời sống, lao động, sinh hoạt, học tập, vui chơi giải trí… của con người. Ở đây, tác giả chọn định nghĩa về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh để làm cơ sở lý luận, vận dụng nghiên cứu thực hiện đề tài. Bởi vì, định nghĩa này giúp tác giả có cái nhìn một cách đầy đủ, rõ ràng và chính xác về văn hóa và phù hợp với vai trò, chức năng của đối tượng cũng như nội dung đề tài nghiên cứu.
Khái niệm quản lý văn hóa - Khái niệm quản lý văn hóa trong xã hội hiện đại có thể hiểu là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức, kiểm tra và giám sát việc thực thi các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung. Ngoài ra, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động một cách chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (gồm các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý), đối với khách thể (gồm các thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa), nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống người dân…) [18, tr25 – tr26]. 15 Bản chất của quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta là việc thực thi công tác quản lý của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương đối với hoạt động văn hóa nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hiểu theo cách đơn giản: là một hệ thống tác động có mục đích của Đảng, Nhà nước thông qua các chủ trương, chính sách, biện pháp và thực thi bằng pháp luật trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng nhằm định hướng, điều khiển hoạt động, hành vi của các tổ chức, thành viên trong xã hội, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc.
Từ cách hiểu trên, chúng ta có thể làm rõ thêm nội hàm của quản lý nhà nước về văn hóa và các yếu tố hình thành hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta đó là: - Đối với chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta đó là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, được phân cấp, phân quyền quản lý đồng bộ: cấp Trung ương, cấp tỉnh (do tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương quản lý), cấp huyện – quận (do huyện thuộc tỉnh, huyện – quận thuộc thành phố quản lý), cấp xã – phường (do xã thuộc huyện, phường thuộc quận quản lý). Do đó, quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp nào thì cơ quan nhà nước ở cấp đó trực tiếp quản lý. Ví dụ như: Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn xã “X” thì sẽ do Ủy ban nhân dân xã “X” trực tiếp quản lý và công chức văn hóa xã hội xã “X” được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa cho Ủy ban nhân dân xã “X”. Vì vậy, người làm công tác quản lý văn hóa phải hiểu rõ đối tượng mình quản lý chính là văn hóa, bên cạnh đó phải có kiến thức vững về văn hóa và quản lý nhà nước, trong quản lý văn hóa phải giữ vững nguyên tắc 16 Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước – dân chủ hóa công tác quản lý, tập trung dân chủ.
- Đối với khách thể quản lý nhà nước về văn hóa đó là văn hóa và các cá nhân, tổ chức, cơ quan hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có mối quan hệ trực tiếp đến lĩnh vực văn hóa. Văn hóa với góc độ là khách thể quản lý có thể hiểu theo nghĩa là các hoạt động văn hóa (bao gồm các dịch vụ văn hóa, các hoạt động sáng tạo, truyền dạy…); các giá trị văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Bên cạnh đó, trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước thì không phải toàn bộ những hoạt động văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng đều do ngành văn hóa quản lý, đơn cử như văn hóa giáo dục sẽ do cơ quan giáo dục quản lý. - Đối với mục đích của việc quản lý nhà nước về văn hóa nhằm giữ gìn và phát huy những bản sắc, giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta được hình thành trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hơn 4.000 năm lịch sử đồng thời tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, qua đó xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa tại từng địa phương, từng cấp chính quyền phải xác định mục đích quản lý một cách rõ ràng, cụ thể, bám sát nội dung, nhiệm vụ yêu cầu có như vậy mới mang lại hiệu quả thiết thực. - Đối với cơ sở pháp lý để thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa chính là Hiến pháp, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Vì vậy với hoạt động quản lý nhà nước ở tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội nói chung cũng như lĩnh vực văn hóa nói riêng đều có công cụ quản lý đó chính là Hiến pháp, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan chứ không phải quản lý bằng ý chí chủ quan của nhà quản lý. Cách thức quản lý là sự tác động thường xuyên, liên tục, có chủ đích chứ không phải là việc làm thời vụ, cảm tính, nhất thời của nhà quản lý.