mở đầu ngày hội theo thời gian và không gian. Nghi lễ tạo thành nền móng vững chắc, tạo một yếu tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng người đi hội trước khi chuyển sang phần xem hội. Vì vậy có thể nói lễ là phần đạo của con người, nó chi phối mọi suy nghĩ và hành động của con người. Phần Lễ trong lễ hội truyền thống là một hệ thống liên kết có trật tự cùng hỗ trợ nhau, thường bao gồm các nghi lễ: - Lễ rước nước: là một hành động thị phạm của nghi thức cầu mưa, cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân trên khắp mọi miền đất nước, đặc biệt là cư dân sản xuất, canh tác nông nghiệp.
10 Nghi thức lấy nước: thường lấy nước ở giếng đình của làng hoặc lấy nước giữa dòng sông. Dòng nước thiêng giữa dòng sông được hình thành từ trời và đất đã băng qua bao nẻo đường phù sa, thấm đẫm linh vị của bốn phương trời đất được đem về tắm tượng như là đem một lời ước mong, một lời chúc phúc tốt đẹp cho một năm mới được mùa, no đủ. Khi lấy nước phải có lời chú, niệm thần linh, trời đất… Dụng cụ lấy nước như chóe sứ, gáo đồng, phải dùng vải đỏ bịt miệng chóe và phủ toàn bộ chóe. Nghi thức lấy nước còn mang những ý nghĩa tinh thần khác như bình gốm sứ biểu trưng cho thổ; gáo đồng biểu trưng cho kim; cán gáo, thuyền gỗ, hoa quả biểu trưng cho mộc; nước sông biểu trưng cho thủy; vải đỏ phủ miệng bình và khi lấy nước phải thắp hương khấn thần, khấn trời đất biểu trưng cho hỏa.
[21] - Lễ mộc dục: Là nghi thức tắm rửa thần tượng (hoặc thần vị) trước khi làng vào đám. Việc này, làng giao cho những người dân cẩn thận, có đức độ đảm nhiệm. Tượng được tắm bằng nước sạch vừa rước về, sau đó tắm thêm nước trầm hương cho thơm. Lễ mộc dục thường cử hành tại đền hoặc miếu là nơi thần an ngự.
[21] - Tế gia quan: là lễ khoác áo, mũ cho thần tượng, thần vị. Có thể là áo mũ đại trào được triều đình ban theo chức tước, phẩm hàm lúc đương thời hoặc là áo mũ tượng trưng được làm ở các hàng mã đã để sẵn ở nơi thần đang ngự. Những chân kiệu, nghĩa là những người được dân làng cử để khiêng kiệu đức thần trong những buổi rước phải trai giới từ mấy hôm trước và chỉ những người này mới được tham dự việc phong mũ áo. Trong lúc vào phong mũ áo, mỗi người phải bịt miệng bằng một chiếc khăn điều để trần khí không xông tới thánh cung, mang tội bất kính.
Mũ áo đai mãng phong lại, được an phụng lên long kiệu rồi tế một tuần chờ sáng hôm sau rước về đình. Tuần tế này là tế gia quan. [2; 169 - 170] - Lễ rước, đám rước: Lễ rước thường tổ chức rước từ đình ra đền hoặc miếu hay một nơi nào khác rồi lại rước trở về để làm lễ tế. Hoặc có thể rước chúc văn, lễ vật của các dòng họ từ nhà thờ họ ra nơi tế lễ chung của cả làng.
Thông thường là phần trình diễn khá ngoạn mục, vừa trang nghiêm vừa sôi động 11 với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp cư dân được tổ chức chặt chẽ theo những trật tự nhất định. [21] - Tế đại tế: là một hành vi mời triệu thần về, hiến dâng lễ vật cho thần linh và cầu xin thần linh ban phúc lộc. Đó cũng là khi vào hội. Tế khác cúng và lễ thông thường ở chỗ phải có âm nhạc kèm theo.
Chiêng to hòa với trống cái, còn trống đồng văn, phường bát âm thường hỗ trợ thay phiên nhau tấu làm không khí buổi tế trở lên linh thiêng hấp dẫn. Đại tế là nghi lễ trang trọng nhất trong hệ thống lễ. Tại lễ này làng thường mổ trâu, mổ bò để làm vật tề phẩm dân cúng thần linh. Đại tế do ban tế thực hiện, ban tế này do làng cử ra từ 17 đến 21 người.
Đứng đầu ban tế là vị chủ tế điều hành trong suốt buổi lễ. Chủ tế là người có tuổi, có đức độ, có phẩm hàm hoặc đỗ đạt cao. Sau chủ tế có từ hai đến bốn vị bồi tế, hai vị xướng Đông và xướng Tây, hai vị nội tán để trợ xướng. Số còn lại là chấp sự đảm đương nhiệm vụ chúc rượu, dâng hương, chuyển chúc, đọc chúc.
Những người trong ban tế phải nằm riêng hàng tuần trước khi vào đám. Hôm vào lễ tất cả phải mặc lễ phục thống nhất, áo thụng quần trắng, đi hia đội mũ. Các hành vi, động tác cũng rất đặc biệt nhằm thể hiện thái độ kính cẩn của dân làng với thần linh. [21] - Lễ túc trực: là trông nom, canh giữ bài vị hoặc tượng thần tai đình trong suốt thời gian diễn ra lễ hội.
- Lễ hèm: là nghi thức nhằm diễn lại một quãng đời không lấy gì làm “vẻ vang” lúc sinh thời. Quãng đời đó thường có những việc làm như lừa đảo, trộm cuớp, dâm tục hay là do đói khó mà phải sống bằng nghề bị thiên hạ cho là thấp kém nhặt phân, hành khất…Vì vậy mà khách thập phương chẳng mấy ai được chứng kiến lễ hèm. Ngoài ra có những lễ hèm nhắc đến những công việc không phải là xấu, là tầm thường nhưng vẫn được giữ kín để đảm bảo tính chất thiêng. [5; 40] - Lễ rã đám: sau lễ hội các làng thường tổ chức một tuần đại tế để kết thúc hội.
Sau đó rước thần tượng hay thần vị trở lại nghè miếu. Lễ rã đám cũng tiến 12 hành đầy đủ trình tự của lễ tế, duy lễ vật thì không có mổ trâu, mổ bò… chỉ có xôi, quả mà thôi. [21] Phần hội: được xem như một không gian có đông đảo người dự tạo ra niềm vui theo nhữnh phong tục hoặc nhân dịp có liên quan đến những kỷ niệm của cộng đồng. Hội chính là phần đời của con người, có những hoạt động có màu sắc, âm thanh không khí của lễ hội.
Nếu như lễ là một hệ thống có tính quy phạm nghiêm ngặt được cử hành tại chốn đình trung thì trái lại hội lại là một sinh hoạt dân dã phóng khoáng diễn ra trên sân bãi để dân làng cùng bình đẳng vui chơi với hàng loạt trò tục hấp dẫn do mình chủ động tham gia. Phần hội diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm lý cộng đồng, văn hóa dân tộc chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên. Trong hội thường có những trò vui, những đêm thi nghề, thi hát tượng trưng cho sự nhớ ơn và ghi công của người xưa. Hội là một hệ thống các trò chơi, trò diễn phong phú như: trò chơi thượng võ, trò chơi thi tài, trò chơi nghề nghiệp, trò chơi luyến ái, trò chơi phong tục và các hình thức vui chơi, ăn uống cộng cảm khác.
Có thể nói, tất cả những gì tiêu biểu của một vùng đất, một làng xã được đem ra phô diễn mang lại niềm vui cho mọi người. Các chàng trai đi hội là cái cớ để gặp nhau, tìm nhau. Phần hội thường gắn liền với tình yêu, giao duyên nam nữ nên rất có phong vị tình. Hội là đem lại những lợi ích tinh thần cho mọi thành viên trong việc tổ chức và mục đích của hội là để vui chơi thoả thích, thoải mái.
Hội không bị ràng buộc bởi lễ nghi tôn giáo, đẳng cấp và tuổi tác. Sau những ngày tháng làm ăn lam lũ, dân làng chờ đón ngày hội như chờ đón niềm tin vui cộng đồng. Họ đến với hội trong tinh thần cộng cảm, hô hởi, sảng khoái và hoàn toàn tự nguyện. Tóm lại khi nói tới lễ hội tức là người ta nói tới phần đạo và phần đời của con người trong hoạt động xã hội, ở đó các nghi thức rất cụ thể và sinh động.
Nó vừa mang tính chất đời thường đồng thời cũng được thần thánh hóa. Vì vậy lễ hội diễn ra có sức hấp dẫn lạ kỳ, con người được hòa quyện với thiên nhiên, với 13 đất trờ và với nhau để được chơi, được lãng quên đi những nhọc nhằn vất vả và hướng tới một niềm vui, niềm tin trong tương lai. Lễ hội hiện đại Lễ hội hiện đại chỉ ra đời từ sau năm 1945, những lễ hội này thường gắn với việc kỷ niệm các sự kiện có liên quan đến cách mạng, kháng chiến hoặc các doanh nhân, anh hùng dân tộc. Lễ hội hiện đại thường tính theo thời gian dương lịch.
Lễ hội có thể diễn ra theo định kỳ ngày tháng trong năm, hoặc theo định kỳ năm chẵn hoặc năm lẻ. Lễ hội hiện đại thường diễn ra trong thời gian ngắn trừ các lễ hội chợ xuân, hội chợ triển lãm, liên hoan du lịch… Lễ hội hiện đại thường là những hoạt động mang ý nghĩa xã hội có liên quan đến các sự kiện chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội như các hoạt động chào mừng những sự kiện nào đó, lễ khai mạc, lễ bế mạc các sự kiện quan trọng gắn với một tổ chức hay rộng hơn trên phạm vi quốc gia - dân tộc. Lễ hội hiện đại bao gồm: “Lễ hội Du lịch”, “Lễ hội Văn hóa- Thể thao- Du lịch”, “Lễ hội Du lịch- Thương mại”, “Liên hoan Du lịch”, “Hội chợ triển lãm”, “Festival”…. Không gian của lễ hội hiện đại thường diễn ra ở các trung tâm đô thị, thủ đô và các thành phố lớn của đất nước.
Trong lễ hội hiện đại có sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, các yếu tố cấu thành của đời sống hiện đại như nghi thức, phương tiện âm thanh, hình ảnh, ánh sáng, trang phục… Lễ hội hiện đại do tính chất kỉ niệm đặc biệt hoặc được tổ chức nhằm mục đích quảng bá, thúc đẩy quan hệ kinh tế - đối ngoại nên thường được truyền thông, truyền hình rộng rãi, nhanh chóng và đầy đủ, chi tiết các hoạt động của lễ hội. Lễ hội hiện đại là một sinh hoạt văn hóa, đồng thời là một sinh hoạt chính trị rộng khắp chứa đựng những giá trị hiện sinh đồng thời phản ánh trình độ, điều kiện và xu hướng phát triển của xã hội ở thời điểm diễn ra lễ hội. Thông thường những lễ hội hiện đại có thể bao gồm các bước tiến hành theo trình tự sau: - Rước lửa truyền thống: Lửa thiêng luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống con người, nó luôn mang những ý nghĩa linh thiêng, cao đẹp về 14 sự phát triển. Trong thờ cúng và các lễ hội truyền thống không bao giờ thiếu mặt của hương, lửa.