CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH HỢP TÁC VĂN HÓA CỦA HAN QUOC VOI VIỆT NAM 1. Một số khái niệm và quan điểm của Hàn Quốc về hợp tác văn hóa * Chính sách (d): Theo Từ điển tiếng Việt, chính sách là “Sách lược và kế hoạch cụ thé nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”. Một định nghĩa khác: Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ, nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muôn đạt được và cách làm đê thực hiện các mục tiêu đó. Phân tích khái niệm “chính sách”, ta thấy: (1) Chính sách là do một chủ thê quyền lực hoặc chủ thé quản ly đưa ra; (2) Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; (3) Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhăm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đêu có sự tính toán và chủ đích rõ ràng.
* Văn hóa: Theo Tw điển tiếng Việt, văn hóa là: “1. Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử; 2. Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh than; 3. Tri thức, kiến thức khoa học nói chung”.
Theo Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tỉnh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venisce”.7 *Hợp tác (dg): Theo Từ dién tiếng Việt, hợp tác là “Cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhắm một mục đích chung”. ! Viện Ngôn ngữ học (2004), Tir điển Tiếng Việt, Nxb Da Nẵng, tr.1100 ?Trân Ngọc Thêm (2014), “Khái luận vê van hoá”,www.vn (truy cập ngày 28/11/2017) 3 Viện Ngôn ngữ học (2004), Tir điển Tiếng Việt, Nxb Da Nẵng, tr.466 12 * Hop tác văn hóa: Là sự phối hợp của cả hai bên đối tác trong các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa, nhăm đạt được mục tiêu chung và mục đích riêng của mỗi bên. Hợp tác văn hóa thường diễn ra giữa hai quốc gia, giữa hai địa phương của hai quốc gia, hoặc giữa một quốc gia văn hóa phát triển với một khu vực, trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi.
Hợp tác văn hóa đôi khi không chỉ dừng lại ở các lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật vốn được quan niệm phô biến, mà có thé còn được mở rộng, sang cả các lĩnh vực khoa học, công nghệ hay giáo dục, đào tạo trên tính thần khái niệm văn hóa hiểu theo nghĩa rộng. Biểu hiện rõ nhất của hợp tác văn hóa giữa hai quốc gia đó là việc ký kết các hiệp định văn hóa có giá trị trong khoảng thời gian nhất định, quá trình thực hiện và kết quả của việc thực hiện các hiệp định đó. Thái độ, quan điểm hợp tác văn hóa của mỗi bên thường được biểu hiện thông qua chính sách hợp tác văn hóa của nước đó với từng đôi tác cụ thê. * Quan diém cua Hàn Quoc về hợp tác văn hóa Quan điểm nay đã được một trong các Tổng thống Dai Hàn Dân quốc là Kim Young-Sam (1993-1998) nêu ra trong “chiến lược toàn cau hóa” của Hàn Quốc.
Ông nhắn mạnh: Văn hóa và tu duy phải được toàn cau hóa; người Han Quốc phải khám phá lại sự phong phú vốn có của nên văn hóa truyền thống Hàn Quốc và hòa nhập với nên văn hóa thé giới. Cách tư duy khép kin của họ phải được mở ra và mang tính lý trí dé họ có thể trau doi cách tư duy và đạo đức mới, thích hợp với công dân toàn câu hóa.* Đây là quan điểm chiến lược phát triển mang tinh sáng tao và đột phá. Bởi vì, trong xã hội Hàn Quốc cho đến những năm 90 của thế kỷ trước, không ít người nghi ngờ về sự phát triển của cái gọi là “công nghiệp văn hóa” ở nước này. Họ cho răng, kinh tế quyết định văn hóa, trong văn hóa không bao hàm yếu tô kinh tế.
Văn hóa theo quan niệm cũ không hề sinh lời, không thé tạo ra của cải vật chất. Nhưng thực tế sự phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó có hợp tác, xuất khâu văn hóa của Hàn Quốc đã chứng minh một cách đầy đủ tư duy hợp tác, phát triển của Kim Young-Sam là hoàn toàn đúng đắn. Trong hợp tác văn hóa, Hàn Quốc đặc biệt chú trọng thúc đây giảng dạy tiếng Hàn và Hàn Quốc học, coi đó như việc thiết lập cây cầu kết nối Hàn Quốc với các quốc gia, dân tộc khác. Chính phủ Hàn Quoc nêu mục tiêu chiên lược của Han Quoc học là nhăm nâng cao giá tri quôc *Lý Xuân Chung (2013), “Những chính sách của Hàn Quốc làm gia tăng quyền lực mềm”, Tap chí Nghiên cứu Đông Bắc A, sô 10 (152).
13 hiệu Hàn Quốc trên toàn thế gidi. Đề thực hiện mục tiêu này, các quỹ hỗ trợ quốc té của Han Quốc lần lượt ra đời, hoạt động tích cực nhất là các quỹ: Quỹ giao lưu quốc tế Hàn Quốc, Quỹ Viện nghiên cứu Hàn Quốc Trung ương, Quỹ Biên dịch văn học Hàn Quốc, Quỹ Daesan. Cùng với việc thúc day Hàn Quốc học, chính phủ Hàn Quốc còn đặc biệt quan tâm đến việc giảng dạy tiếng Hàn ở nước ngoài, trọng tâm là các nước châu Á, trong đó có Việt Nam." Từ việc trình bày các khái niệm, cũng như phản ánh quan điểm của Hàn Quốc về hợp tác văn hóa,coi đó như những tiêu chí để tham chiếu, chúng tôi muốn nêu lên nhận thức của mình về chính sách hợp tác văn hóa, đó là tập hợp các chủ trương và hành động về hợp tác văn hóa của một quốc gia, do chính phủ hoạch định, trong đó bao gồm các mục tiêu hợp tác với nước ngoài mà chính phủ muốn đạt được và cách thức đề thực hiện các mục tiêu đó. Chính sách hợp tác văn hóa có thé có phương hướng chung, song thông thường phải thê hiện rõ chủ thé hợp tác và đối tác (là quốc gia này, hợp tác với một quốc gia khác) trên lĩnh vực văn hóa.
Chính sách hợp tác văn hóa thé hiện nỗ lực của chủ thé hợp tác (quốc gia công bố chính sách) nhằm đạt được mục tiêu hợp tác văn hóa với quốc gia đối tác, trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Có nghĩa là, bên cạnh mục tiêu ma chủ thể cần đạt được, chính sách hợp tác văn hóa còn phải đạt mục tiêu chung cho cả hai bên, đồng thời mang lại lợi ích cho cả đối tác. Nội dung cốt lõi của chính sách hợp tác văn hóa đương nhiên là các lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật như cách hiểu phổ biến xưa nay. Tuy nhiên, phạm vị hợp tác văn hóa giữa hai quốc gia còn có thể mở rộng sang các lĩnh vực như khoa học - công nghệ, giáo dục - đảo tạo, báo chí - truyền thông, các trò chơi điên tử, thé dục thé thao, du lịch, bồi dưỡng thanh thiếu niên.
như tinh thần khái niệm văn hóa hiểu theo nghĩa rộng và hiện đại. Đó cũng là lý do mà nội dung của Hiệp định Hợp tác văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam được ký năm 1994 bao gồm tất cả các nội dung như đã nêu ở trên. Sau này, khi quan hệ hợp tác giữa hai bên đối tác đã đi vào chiều sâu, mỗi lĩnh vực hợp tác cũng có thé có một hiệp định được ký kết riêng, như hiệp định hợp tác về giáo dục - đào tạo, hợp tác về khoa học- công nghệ, hợp tác về báo chí - truyền thông, hợp tác về du lịch. Lý Xuân Chung (2013), “Những chính sách của Hàn Quốc làm gia tăng quyền lực mém”,Tap chí Nghiên cứu Đông Bắc A, số 10 (152), tr.
14 Việc làm rõ nhận thức về chính sách hợp tác văn hóa mà chúng tôi nêu ra trên đây không ngoài mục đích xác định khung tiêu chí cho nội dung nghiên cứu của đề tài. Mặc dù phạm vi hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam là rất rộng, nhưng chúng tôi tập trung chú ý vào các lĩnh vực hợp tác như văn hóa (am thực, thời trang, bảo tàng, quản lý di sản.), nghệ thuật (điện ảnh, phim truyền hình, văn học, âm nhạc, hội họa), giáo dục-đào tạo (tiếng Hàn, tiếng Việt, Hàn quốc học, Việt Nam học), một số lĩnh vực khoa học. Khái quát về lịch sử quan hệ Hàn- Việt và hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam trước năm 1994 1. Khái quát về lịch sử quan hệ Hàn - Việt Giới nghiên cứu đã nói nhiều về sự tương đồng địa lý, văn hóa, lịch sử.
giữa Hàn Quốc và Việt Nam. Sự thật, từ rất sớm, “số phận” lịch sử đã gắn kết hai dân tộc, tạo nên mỗi quan hệ lâu đời. Ngay từ các thế kỷ XII-XIHI, sự việc hai Hoàng tử Triều Lý của Đại Việt là Lý Dương Côn (TK XII) và Ly Long Tường (TK XIID, do những biến động của lịch sử Đại Việt, đã lần lượt đến Cao Ly, được vua Cao Ly cưu mang, rồi đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Cao Ly, tạo nên những dau moc đâu tiên cho môi quan hệ cua hai dân tộc. Cũng ở thời kỳ Trung dai, sứ than Mạc Dinh Chi của Đại Việt từng được sứ thần Cao Ly mến mộ, mời sang Cao Ly và kết hôn với người cháu gái của sứ thần Cao Ly.
Cuộc hôn nhân này đã để lại ở Cao Ly những di duệ họ Mạc. Sau Mạc Đĩnh Chi, nhiều thế hệ sứ thần Đại Việt đã có những cuộc tiếp xúc, đàm đạo văn chương, học thuật với các sứ thần Triều Tiên, trong đó phải kế đến các cuộc văn chương tao ngộ của các cặp sứ thần trứ danh hai nước như Phùng Khắc Khoan (Đại Việt — Lý Túy Quang (Triều Tiên) ở thé ky XVI, Lê Quý Đôn (Đại Việt) - Hồng Khải Hy (Triều Tiên) ở thế ky XVIII. Trong thập kỷ đầu thế kỷ XX, Việt Nam và Hàn Quốc còn có chung hoàn cảnh mất nước, nên các nhà yêu nước của hai dân tộc như: Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc. (Việt Nam) và Triệu Tố Ngang, Kim Khuê Trực.